31-07-2012 - 07:14

Nhà nghiên cứu văn hoá NGUYỄN KHẮC VIỆN

Nguyễn Khắc Viện (1913 - 1997) là nhà hoạt động chính trị - xã hội, nhà nghiên cứu văn hóa và tâm lý - y học - giáo dục, Giải thưởng Nhà nước Việt Nam và Grand prix de la Francophonie của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu giá trị cho Việt Nam.

hà nghiên cứu văn hoá NGUYỄN KHẮC VIỆN

              Nguyễn Khắc Viện  sinh ngày 5 tháng 2 năm 1913, quê ở làng Gôi Vị, bên bờ sông Ngàn Phố, nay là xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là con trai của cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm làm Thượng thư Bộ Lễ triều đình nhà Nguyễn.  Ông từng học ở trường Collège Vinh, một trường có tiếng nhiều học sinh giỏi như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Đức Nguyên (tức Hoài Thanh).Sau khi chuyển vào Huế học và đỗ Thành chung, năm 1931, ông ra Hà Nội học lớp tú tài trường Bưởi.Năm 1935, sau khi đỗ tú tài rồi, ông thi đậu vào trường Đại học Y khoa Hà Nội.Năm 1937, ông được sang Pháp học tại Đại học Y khoa Paris.   Năm 1941, ông tốt nghiệp bác sĩ nhi khoa và bác sĩ các bệnh nhiệt đới nhưng do Thế chiến thứ hai bùng nổ nên ông không thể trở về. Trong thời gian này, ông mắc bệnh lao và phải điều trị dài hạn trong trại an dưỡng. Mãi đến năm 1947, ông mới tạm hồi phục và trở lại Paris, Tại Pháp, ông nghiên cứu và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, phản đối chiến tranh của thực dân Pháp và hoa Kỳ tại Đông Dương. Ông là người lãnh đạo phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp. Ông thường xuyên viết bài giới thiệu Việt Nam, phê phán chủ nghĩa thực dân đăng trên các tạp chí vào báo nổi tiếng tại Pari La Pensée (Tư tưởng), Esprit (Tinh thần), Europe (Châu Âu), La nouvelle critique (Phê bình mới), Cahiers du communisme (Tập san cộng sản), L’Observateur (Người quan sát), France nouvelle (Nước Pháp mới), Le monde diplomatique (Thế giới ngoại giao) dưới nhiều bút danh: Nguyễn Nghệ, Nguyễn Kiên... Ông từng là Chủ tịch của Hội người Việt Nam tại Pháp (Union Générale les Vietnamiens en France). Năm 1963, ông về nước sáng lập và chủ biên tạp chí đối ngoại Nghiên cứu Việt Nam bằng tiếng Pháp và tiếng Anh (Etudes VietnamiennesVietnam Studies) và làm giám đốc nhà xuất bản Ngoại văn (nay là Nhà xuất bản Thế giới). Năm 1984, ông sáng lập và làm giám đốc Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em và tâm bệnh lý (trung tâm NT), xuất bản tờ “Thông tin khoa học tâm lí”, đặc biệt quan tâm đến những trẻ em bị rối loạn tâm trí do hoàn cảnh. Ông là người yêu nước nồng nàn, có nhiều tư tưởng tiến bộ về chính trị, văn hóa và giáo dục nhưng những đề nghị của ông không được nhà cầm quyền lưu ý.
Tháng 11 năm 1992, Nguyễn Khắc Viện được trao giải thưởng Grand prix de la Francophonie của Viện Hàn lâm Pháp. Với tấm lòng yêu trẻ thiết tha, ông đã cống hiến phần lớn khoản tiền thưởng 400.000 franc (tương đương 80.000 USD) cho quỹ của Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em (Trung tâm NT).Năm 1997, Nhà nước Việt Nam trao tặng cho ông Huân chương Độc lập hạng nhất.Ngày 1-9-2000, Chủ tịch nước đã quyết định truy tặng Giải thưởng Nhà nước cho cuốn "Việt Nam, một thiên lịch sử".Ngày 10 tháng 5 năm 1997, Nguyễn Khắc Viện qua đời. Thi hài ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch Hà Nội dành cho những danh nhân có công đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Tác phẩm:

  • Truyện Kiều (dịch sang tiếng Pháp)
  • Lịch sử Việt Nam
  • Kinh nghiệm Việt Nam
  • Miền Nam Việt Nam sau Điện Biên Phủ
  • Tuyển tập văn học Việt Nam
  • Việt Nam, Patrie retrouvée
  • Từ điển tâm lí
  • Từ vựng tâm lí
  • Từ điển xã hội học
  • Nỗi khổ của con em
  • Tâm lí gia đình
  • Tâm lí tiểu học
  • Từ sinh lí đến dưỡng sinh
  • Tâm lí trẻ em
  • Tâm lí đại cương
  • Tâm bệnh lí trẻ em
  • Bàn về đạo Nho
  • Tìm lại Tổ Quốc
  • Việt Nam một thiên lịch sử [1]
  • Ước mơ và Hoài niệm.
  • Tâm lý học và đời sống/ Đặng Phương Kiệt, Nguyễn Khắc Viện.-

 

Nguyễn Khắc Viện - hành trình đến chữ tâm

 

 

         Có một lần, Nhà xuất bản Ngoại văn mời giáo sư Nguyễn Hoàng Phương đến nói chuyện về trường sinh học. Tình cờ tôi ngồi đối diện với bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, thủ trưởng cơ quan, nên nom thấy ông nghe rất chăm chú. Tan cuộc, tôi lân la đến hỏi ý kiến bác sĩ về môn khoa học huyền bí đang trở thành mốt này. Nguyễn Khắc Viện bật ra một câu nói của Khổng Tử: Tố ẩn hành quái, ngộ bất vi chi (những việc bí ẩn quái dị, ta không làm). Rồi ông buông thõng: Trong đời sống cũng như trong khoa học không thể và không nên thiếu những đầu óc mơ mộng kỳ quặc, nhưng nếu ai cũng vậy thì…
Tôi biết ông nói vậy không phải để răn đe nhân viên. Một người duy lý như ông không tán thành trường sinh học thì cũng là chuyện đương nhiên. Vốn sinh ra trong một gia đình nhà Nho, từ nhỏ tuy không học chữ Hán, nhưng ông đã nhiễm tư tưởng, lối suy nghĩ của nhà Nho một cách vô thức. Nho giáo là một học thuyết cai trị, một tập hợp những ứng xử xã hội lấy tu thân làm gốc, lấy gia đình làm hình mẫu. Khổng Tử đã tự minh định mình bằng câuhọc nhi bất yếm, hối nhân bất quyện (học không biết chán, dạy không biết mỏi). Nhà Nho là người không chỉ muốn giải thích (nhiều khi không muốn cả giải thích nữa), mà còn muốn cải tạo xã hội, trước hết là cải tạo con người. Ông hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, ý thức được điều đó hơn ai hết, đã cho cậu con trai đi học chữ quốc ngữ, vì biết được sự suy tàn của đạo Nho, ông nghè, ông cống cũng nằm co. Lĩnh ý cha, Nguyễn Khắc Viện học rất chăm, học thành tài để giúp dân giúp nước. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông không học luật để ra làm quan, mà chọn nghề thầy thuốc là vì vậy.
Con người dòng dõi Nho học đó lại tiếp thu khoa học phương Tây, mà tinh thần cốt yếu của nó là khoa học thực nghiệm, nhất là thời gian học y khoa ở Pháp từ 1937 đến 1941. Như vậy, Nguyễn Khắc Viện là con người duy lý đến hai lần. Từ 1942-1951, sau khi bị lao phổi phải cắt bỏ hẳn một lá và lá kia cũng chỉ còn một nửa, Nguyễn Khắc Viện lên núi chữa bệnh, tiếp xúc với chủ nghĩa Mác và tìm ra thuật dưỡng sinh theo phương pháp khí công – yoga. Khỏi bệnh, ông “hạ sơn” và tái xuất vào con đường hoạt động cách mạng, làm Chủ tịch Hội Việt kiều ở Pháp, viết nhiều sách báo tuyên truyền cho Việt Nam, cho đến khi bị trục xuất về nước năm 1963. Ở nhà, được giao công tác văn hoá đối ngoại, ông đã tạo một bước mới về chất, từ nội dung, phong cách đến tầm cỡ những vấn đề đặt ra. Ông còn tích cực tham gia vào đời sống đất nước và luôn có tiếng nói kịp thời về những sự kiện xã hội…
Tôi nhớ, có lần nhân giới thiệu cuốn Cù Lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Khắc Viện nói: tôi với Nguyễn Mạnh Tuấn giống nhau ở chỗ có “máu” chính trị. Tôi làm gì cũng nhằm mục đích tuyên truyền cả. Khi cần giới thiệu lịch sử Việt Nam cho bạn bè biết thì tôi viết thông sử, còn giới thiệu văn học cổ điển Việt Nam thì tôi dịch Kiều… Điều đó cũng có phần đúng, nhưng ở một người có văn hóa cao và nhiệt tâm như Nguyễn Khắc Viện thì dầu vì mục đích chính trị, các tác phẩm của ông đều có giá trị tự thân: Cuốn lịch sử ông viết vẫn là “sử” hơn cả, còn bản dịch Kiều thì đã thoát khỏi mê cung điển tích để đạt tới tín, nhã… Tuy nhiên, từ duy lý đến duy ý chí đôi khi chỉ một bước. Trong cuộc đời hoạt động chính trị ráo riết của mình, Nguyễn Khắc Viện, tôi nghĩ, hẳn không tránh khỏi những lần quá tin vào ý chí siêu phàm của mình. Cơ thể bản thân thì được, cơ thể xã hội thì khó.
Trở lại, noi theo đạo nhà, Nguyễn Khắc Viện đưa ra khái niệm đạo lý như là một bổ sung cần thiết cho duy lý. Theo ông, đạo lý khác với đạo đức, nhất là khác với chính trị. Đạo lý là những phẩm chất nhân bản ở trong mỗi con người và có giá trị bất biến. Còn đạo đức thì có thể thay đổi theo phong tục tập quán và quan niệm của từng thời đại. Đạo lý là cái căn bản để tạo nên nhân cách. Con người có thể ứng biến, tòng quyền, tuỳ nghi, ở bầu thì tròn, ở ống thì dài, đi với bụt mặc áo cà sa… nhưng không được xa rời đạo lý. Có giữ được bản chất của nước thì mới linh hoạt như nước được. Nhờ giữ vững được đạo lý, Nguyễn Khắc Viện mới có thể trở thành một người hoạt động linh hoạt và mềm dẻo, dám chênh vênh đi giữa những đối lập một cách tự tin, và quan trọng hơn cả là biết dừng (tri chỉ) đúng nơi và đúng lúc.
Người ta thường nói đời người đi theo đường đạn đạo học. Ra đời là con vật bốn chân đến khi về già lại thành con vật ba chân. Tôi thấy Nguyễn Khắc Viện không nằm trong thông lệ này. Càng về già ông càng trở về với chữtâm: Từ duy lý đến đạo lý, từ đạo lý đến tâm lý  (thành lập Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em N -T) và cuối cùng từ tâm lý đến tâm linh. Đó là một hướng thượng.
Nguyễn Khắc Viện đã thực hiện một chương trình nghiên cứu về thờ cúng tổ tiên ở thành phố. Thoạt tiên, ông chỉ muốn tìm kiếm và xây dựng một yếu tố cố kết cho những người dân của một thành phố đang hiện đại hoá. Nhưng dần dần ông thấy ý nghĩa của nó còn hơn thế nhiều. Hoá ra, nhu cầu tâm linh là một chiều kích bản thể của con người.
Những ngày ốm nặng gần đây, thân thể cứ mòn mỏi dần, nhưng tinh thần vẫn sáng suốt. Ông vẫn đọc cho bạn bè chép những bài của ông về Truyện Kiều, về Tú Xương… Ông cũng thường nằm mơ gặp cha và những người thân đã khuất. Tiếng gọi mơ hồ của tổ tiên hình như ngày một rõ hơn. Rồi một hôm ông không muốn đọc cho viết nữa. Bạn hỏi vì sao, ông chỉ trả lời bằng một câu buông thõng: ảo tưởng! Nghe được chuyện này, tôi bỗng nhớ đến bài Nói chuyện với một nhà đạo học của học giả Đào Duy Anh. Đó là cuộc tranh luận triết học của tác giả với Cao Xuân Huy về phép biện chứng của Hêghen, của Mác với biện chứng Lão Tử. Cuộc đấu bất phân thắng bại đã kết thúc bằng một trận cười xoà và câu nói vuốt: Cũng là A.Q cả thôi! Chữ A.Q mà các cụ dùng ở đây, có lẽ, là chủ nghĩa duy lý tưởng, chủ nghĩa Đông Ki Sốt, là ảo tưởng. Các bậc minh triết, đến cuối đời, đều nhìn thấy cái hư vô. Có lẽ, con người cần thấy cái hư vô càng sớm càng tốt, không phải để sống vô trách nhiệm theo chủ nghĩa Mắc-kê-nô, mà để sống bình tĩnh hơn, tốt đẹp hơn. Thiên đường của đức Jesus, Niết bàn của Phật, Hư vô của Thiền, Ý niệm tuyệt đối của Hêghen cũng chỉ là tên gọi khác nhau của hư vô mà thôi, có điều người ta cứ nhân danh nó mà bắt con người hoặc xuất thế, hoặc hi sinh kiếp này cho kiếp sau. Con người hiện đại sống khó ở chỗ vẫn nhìn thấy hư vô mà vẫn tích cực tham dự vào đời sống xã hội.
Người trí thức không phải là nhất thành bất biến, mà luôn biết tự thay đổi, có quyền được thay đổi. Nhưng dù thay đổi đến thế nào đi nữa thì vẫn không rời xa đạo lý, xa rời chữ tâm. Có lẽ, đó là bài học sâu sắc nhất mà cuộc đời bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã để lại.
                                                                                          Đỗ Lai Thuý

 

 

 

 

 

 Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện - sống để trả nợ đời
 

Vợ chồng Nguyễn Khắc Viện thời trẻ

Một người quyết sống
Người đọc Nguyễn Khắc Viện khâm phục sự uyên bác của ông. Và tài hơn nữa, nhất là khi ông viết bằng Pháp ngữ, mà một thành công là bản dịch truyện Kiều ra tiếng Pháp. Ai gặp ông cũng có ấn tượng về sự giản dị trong lối sống và tính duy lý trong suy nghĩ. Ai quen ông, không khỏi kinh ngạc trước nghị lực phi thường và năng suất quá lớn của một người sống và làm việc năm mươi năm với chỉ một phần tư bộ phổi.
Nghị lực giành giật cuộc sống của Nguyễn Khắc Viện, ông đã nhiều lần thuật lại khi bàn về thuật dưỡng sinh. Một thanh niên cao lớn, ham mê thể thao, trong tay ba bằng tú tài, hai bằng bác sĩ, đang làm việc nội trú ở bệnh viện Paris, vững bước trên con đường tiến tới ước mơ cao nhất là một thầy thuốc nổi tiếng chữa bệnh cho mọi người. Tóm lại, một cuộc đời đang phơi phới đột nhiên bị phạt ngang bởi căn bệnh nan y.
Điều trị 8 năm, rời bệnh viện này sang nhà an dưỡng khác, 7 lần lên bàn mổ, 8 xương sườn bị cắt bỏ, xẻo luôn toàn bộ phổi phải và một phần phổi trái. Sau lần giải phẫu cuối, các giáo sư hàng đầu của y học Pháp lắc đầu ái ngại khuyên bệnh nhân hãy... thanh thản nghỉ ngơi.
Nhưng con người ấy quyết sống. Sống và làm việc. Không chỉ chống chọi với cái chết đợi sẵn ở phòng chờ, mà còn dành thời gian điều trị để học chữ Nho, tạo cái vốn đủ bàn về Khổng giáo với văn hào Albert Camus; để học triết học Đông Tây kim cổ, theo dõi thời cuộc để có đủ sức bút chiến với các chính khách và trí thức tên tuổi Tây phương. Sống để làm việc. Sống để trả nợ nhà, nợ nước, nợ đời. Năm tám mươi tuổi, phát biểu nhân dịp nhận giải lớn Viện Hàn lâm Văn học Pháp trao tặng, Nguyễn Khắc Viện nói: “(Thế mà) tôi không hề được chuẩn bị cho nhiệm vụ ấy. Tôi học Y, đâu có học khoa học chính trị hay văn chương. Nhưng chẳng sao, người chiến sĩ phải làm được tất cả, một khi hoàn cảnh đòi hỏi”.
85 năm trang trải món nợ tinh thần
Nghị lực khác thường của ông hẳn được hun đúc bởi động cơ trả nợ. Nợ nhà lớn lắm. Thân sinh ông nổi tiếng hay chữ, mười chín tuổi đỗ Hoàng giáp (tức Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân) ra làm đốc học. Sau khi người Pháp bỏ trường thi chữ Hán, cụ từ ngành học quan chuyển sang ngạch chính quan, làm đến “một đại thần triều đình Huế” (NKV). Để con có thể sang Pháp du học, cụ bỏ ra đúng một nửa lương tháng của mình, còn lại nhà mười bốn người sống bằng nửa lương kia.
Trong hoàn cảnh xuất thân ấy, ba mươi tuổi Nguyễn Khắc Viện mới có “một ít nhận thức chính trị”. Nhờ sống giữa kiều bào, số đông là lao động nghèo thất học, hoà mình trong cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp, tiếp cận Đảng Cộng sản - người giúp trí thức Pháp “sáng mắt sáng lòng” (ý thơAragon), ông giác ngộ dần, từ người yêu nước trở thành người cách mạng. “Ngày trước lòng già cỗi từ tuổi hai mươi, vì trên đất nước không tìm ra chỗ đứng; may mắn là lúc ở nước ngoài lại tìm được đường trở về với dân tộc, đặt lại đời riêng của mình vào giữa dân tộc, mỗi một việc làm nhỏ mọn đều có ý nghĩa, vì được gắn bó với sự nghiệp chung”. Đó là nợ nước.
Nguyễn Khắc Viện không chỉ nợ dân tộc Việt Nam. Ông nói: “Đối với nhân dân Pháp, cả đời tôi mắc một món nợ tôi không thể nào lẩn tránh. Ông phấn đấu sống và làm việc đến những ngày tháng cuối cùng ở tuổi 85, trang trải những món nợ tinh thần ấy.
Lớn lên và bơi lội giữa hai nền văn hoá Đông Tây, bản chất thông tuệ, Nguyễn Khắc Viện tiếp thu tinh hoa cả hai nền văn minh trác việt. Ông kết hợp tinh thần bất khuất của dân tộc, tính khí khái của con người Việt Nam với đầu óc lý luận Tây phương, đặc biệt triết học duy lý, chất cartésien mà người Pháp vẫn tự hào.
Ông nói: “Tôi may mắn được học y khoa là môn khoa học thực nghiệm, lấy thực nghiệm làm cơ bản. Rồi từ phương pháp thực nghiệm chuyển sang phương pháp nghiên cứu xã hội của Mác... Hiện nay, dù có sự đổ vỡ ở châu Âu, tôi suy nghĩ theo cách suy nghĩ của Mác. Tôi cũng thấy học thuyết Mác còn có những mặt thiếu về mặt tu luyện con người”.
Ông tự nhận đã học đạo lý Nho giáo, học thuyết Mác, thuyết tự do, có mặt theo đạo Lão, có mặt theo đạo Phật. Ở tuổi tám mươi, ông nói: “Tất cả những gì tôi tiếp thu được, nay tôi không phủ nhận, phủ định vấn đề gì. Con người tôi tiếp nhận tất cả, xem đấy như là một cái vốn riêng”.
Có người băn khoăn hình như tư duy Nguyễn Khắc Viện không được nhất quán. Ông thấy rõ điều đó. Ai theo dõi sát những bài nói và đọc tác phẩm của ông, có thể cảm thấy điều đó. Là người duy lý nhưng có khi ông quá say sưa với cảm xúc trực quan. Không ít lần ông lạc quan quá sớm. Có khi lại quá bảo thủ. Có điều ông không chịu sửa lại ý kiến của mình đã phát biểu thời điểm trước, về sau không phù hợp nữa: “Con người ta chứ đâu phải Thánh”, ông nói vậy.
Kẻ viết bài này vẫn suy nghĩ, tư duy, kiến giải của con người về các vấn đề xã hội ở tuổi bảy mươi, nhất là trong cuộc sống đang chuyển động với vận tốc lớn. Tư duy biểu đạt kiến thức của mỗi người và phản ánh thực tiễn người ấy trải nghiệm. Không có gì phi lịch sử hơn khi có người muốn chỉnh lý những tác phẩm của mình công bố vài chục năm trước cho ăn nhập với thời thế. Tư duy người trí thức vận động không ngừng suốt cuộc đời, đến khi nhắm mắt xuôi tay. Đó là cái “biến”. Cái bất biến là kiên trì quan điểm chính trị.
Nguyễn Khắc Viện tiếp thu nhiều thứ, kể cả những điều trái ngược nhau như học thuyết Mác và đạo Lão; dường như ông cố gắng dùng những cái khác nhau bổ túc cho nhau, với ý muốn chân thành tạo nên “cái vốn”, giúp mình dày thêm kiến thức, để làm điều có ích. Cái bất biến ở ông là lòng yêu nước. Việc nhà trí thức lớn con quan, sống một phần ba cuộc đời bên Tây, cuối cùng an nghỉ trong nghĩa trang Mai Dịch bên cạnh các bậc Cách mạng tiền bối, là sự ghi nhận của dân, của nước đối với tấm lòng son sắt của ông.
Tôi thấy bậc sĩ phu duy lý ấy nhiều khi cũng nặng về cảm tính. Thăm đồng bằng sông Cửu Long, ông nhìn Đồng Tháp Mười đẹp nhất là hoa súng chứ không phải hoa sen, và nói ra ý nghĩ của mình. Dường như mải say sưa, ông quên khuấy hai câu lục bát đã đi vào kho tàng ca dao Việt Nam: Tháp Mười đẹp nhất... Trong bối cảnh những năm 80, ý kiến ông không khỏi gợi nên phản ứng chính đáng của nhiều bạn đọc.
Con người tự nhận là sĩ phu ấy không cố chấp như các bậc sĩ thời xưa, mà say sưa với cái mới, nhạy bén với cái mới, sẵn sàng tiếp nhận ý kiến khác với mình. Tôi mơ hồ cảm thấy, trong bối cảnh xã hội nào đó, phát biểu cái mới quá sớm so với thời điểm lịch sử tối ưu, ít khi được số đông chấp nhận, và vì vậy có thể mang lại sự phiền toái cho con người có suy nghĩ mới quá sớm. Nguyễn Khắc Viện là một trường hợp.
Tôi có dịp hỏi một nhà báo, vốn là bạn vong niên của Nguyễn, được ông quý và từng viết cả một cuốn sách về Nguyễn sau khi ông qua đời: “Theo anh, đâu là đặc điểm lớn nhất trong nhân cách Nguyễn Khắc Viện?”. Anh không trả lời thẳng, chỉ nói: “Tôi quan sát thấy, về cuối đời, ông già ấy hay nhìn về tương lai, hay nghĩ, hay nói về tương lai”. Có phải vì vậy mà ông già dành những năm tháng cuối đời cho sự nghiệp nghiên cứu và thực nghiệm tâm lý học và tâm bệnh học con trẻ?
Tám mươi năm nhìn lại, Nguyễn Khắc Viện viết, con đường tôi đi có những bước rõ ràng: Tham gia giải phóng dân tộc, tham gia cuộc đấu tranh dân chủ hoá, tham gia vào khoa học con người, khoa học nhân văn. “Con đường đó, nếu cần đi lại, tôi vẫn đi như thế thôi, không có gì thay đổi”.
 

                                                                                                    Phan Quang

 

. . . . .
Loading the player...