02-08-2012 - 08:29

PHAN TẤN LINH

Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Hội viên Hội Liên hiệp VHNT Hà Tĩnh, chuyên ngành văn xuôi. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từng là Phóng viên, Biên tập viên Báo Hà Tĩnh, Thư ký Văn phòng UBND tỉnh Hà Tĩnh. Hiện là Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Hà Tĩnh.

PHAN TẤN LINH
 

Ngày tháng năm sinh: 26/7/1970
Quê quán:  Thành phố Hà Tĩnh
Chức vụ, đơn vị đang công tác: Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Hà Tĩnh
Địa chỉ liên lạc hiện nay:  Số 07 - Lý Tự Trọng - Thành phố Hà Tĩnh
Điện thoại CQ: 0393.698896. NR: 0393.857997. Di động: 0918865688
Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.
Hội viên Hội Liên hiệp VHNT Hà Tĩnh, chuyên ngành văn xuôi.
 
* Vài nét về quá trình học tập, công tác:
- Năm 1991: Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội.
- Năm 1992 - 1998: Phóng viên, Biên tập viên Báo Hà Tĩnh.
- Năm 1998 - 2009: Văn phòng UBND tỉnh Hà Tĩnh.
- Năm 2009 - nay: Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Hà Tĩnh.
 
* Tác phẩm công bố:    Nhiều truyện ngắn đăng trên các báo Trung ương và địa phương.
 

* Tác phẩm tự chọn:
 
TRƯỚC TUỔI BA MƯƠI

                                               
1. Khi Bà Nội tôi còn sống, có lần Người bảo: “Thằng này Canh Tuất - Canh cô, phải cưới vợ ngoài ba mươi thôi con ạ. Cũng lận đận lắm thôi”. Mẹ tôi thì cười: “Ôi giời, bà cứ nói thế, thanh niên bây giờ ngoài ba mươi mới lấy vợ là thường. Thằng Dũng của bà còn phải lo học hành, phấn đấu chứ”. Hồi ấy, còn nhỏ nên tôi cũng chả để ý những chuyện này. Bây giờ, khi một chân đã bước sang tuổi ba mươi, tôi mới giật mình: Lẽ nào Nội tôi nói đúng.
Mười bảy tuổi đăng lính, loanh quanh mấy năm ở biên giới phía Bắc rồi giải ngũ, học Đại học, tốt nghiệp đi làm được gần một năm thì bỏ việc, nửa năm lang thang xin việc ở miền Nam cũng chẳng đâu vào đâu, lại về quê đi làm phụ hồ, gần ba chục tuổi đầu tay trắng. Đó là chân dung tôi.
2. Một lần Thành bảo: “Tao thấy mày dở ông dở thằng thế nào. Trí thức thì trí thức con mẹ nó đi, mày đi làm thợ trông nhếch nhác quá”. Tôi bảo: “Tao học văn, khó kiếm việc chứ có phải tao chán việc Nhà nước đâu”. Thành mắng: “Đấy, cái chỗ tao lo cho mày ngon thế, mày lại bỏ ngang”. Tôi bảo: "Nhưng ở đấy tao không chịu được. Khi tao có ý tự khẳng định thì người ta bảo: "Ở đây bọn tôi không làm thế”. Khi tao góp ý về chuyên môn với tay Trưởng phòng thì hắn ta bảo: “Ở đây tôi là Sếp của cậu”. Thành xẵng: "Tài năng có hạn thì hãy cứ tròn như bi ve mà lăn, hiểu chưa, như tao đây này". Tôi bảo: "Nhưng tao không tròn được". Thành bảo: "Mày làm mất mặt tao!" rồi giận dữ bỏ đi.
 Tôi và Thành học chung lớp, chung trường từ cấp một đến cấp ba, nhưng hiểu nhau không nhiều. Rồi học phổ thông ai cũng bảo tôi học hơn Thành một bậc nhưng Thành đậu Đại học ngay còn tôi thì trượt. Thành học sư phạm, tốt nghiệp về tỉnh làm việc ở một cơ quan đoàn thể. Một vợ một con và cũng lên đến chức Trưởng Ban. Nhà cửa, tiện nghi đầy đủ cả. Nhiều khi Thành mắng, tôi đành chịu nhịn. Thành thành đạt quá, mà tôi thì... Chả bù cho hồi đi học, có gì khó Thành cũng đem hỏi tôi. Và, trong các buổi tranh luận, phần thắng bao giờ cũng nghiêng về phía tôi.
3. Hảo đưa tôi cái băng cát-sét có tựa đề :“Xin trả nợ người” của Trịnh Công Sơn, bảo: "Dũng nghe đi, trong này có mấy bài ngày xưa Hiền rất thích". À, mà Hiền thích thì Dũng cũng thích, phải không?" Tôi chợt nhớ Hiền và buồn bã nhận cuốn băng. Hảo hỏi: "Thế nào, đã nhòm ngó được chỗ nào chưa, gần ba mươi rồi mà Dũng cứ như hồi phổ thông. Lấy gương Thành mà soi ấy".
 Hồi ấy, lên cấp ba, tôi và Thành có thêm ba người bạn mới là Hảo, Hiền và Tú. Bộ năm chúng tôi học giỏi và cũng nghịch ngợm chết người. Lớp mười, tôi vặn đồng hồ của ông Phúc trực trống, Tú xì lốp xe của thầy Hân dạy lịch sử, Thành bỏ Cóc vào bàn cái Hà lớp trưởng. Hảo tóc ngắn, quần tây, đấm đá, chạy nhảy như con trai. Cả nhóm  Hiền hiền lành và học giỏi hơn cả. Chúng tôi coi như em út, có gì cũng nhường. Hiền học giỏi nhất môn văn, có bài luận được làm mẫu trong sách Tập làm văn. Hiền sống nội tâm và khá lãng mạn.
Lên lớp mười một, chúng tôi bớt nghịch ngợm hơn. Vì cả nhóm tôi và Hiền có ý định thi khối C nên thường học cùng nhau. Cả bọn thường trêu chọc và ghép đôi tôi với Hiền. Riêng tôi cũng thấy mến Hiền và có ghi nhật ký về những kỷ niệm giữa chúng tôi. Nhưng không biết là Hiền có nghĩ gì không. Có lần Hiền bảo: "Đàn ông cần nhất là đức tính trung thực. Dũng thì có rồi nhưng hơi cực đoan. Hèn gì văn Dũng hay mà cứ lành lạnh thế nào!" Tôi và Hiền có khá nhiều kỷ niệm, hết lớp mười một, nhật ký của tôi đã đầy ắp. Có lần, Hiền vớ được cuốn Nhật ký, đọc, khóc và nói : "Còn trẻ mà Dũng, với cả Hiền bệnh, sợ người ta khổ". Tôi nổi khùng: "Đừng nói kiểu ấy với tôi. Tôi yêu thì mặc tôi. Còn đằng ấy có hay không, không cần biết". Sau này nghĩ lại, tôi cứ ân hận mãi về chuyện mình đã nặng lời với Hiền.
Hiền bệnh tim, đột ngột mất giữa năm chúng tôi học lớp mười hai. Cả trường ai cũng thương tiếc. Riêng tôi, là con trai mà hôm đưa đám còn khóc. Khi người ta hạ huyệt quan tài Hiền, hình như có gì trong tôi cũng bị chôn theo.
Sau cái chết của Hiền, Hảo tỏ ra là người hiểu tôi hơn cả. Hình như Hảo không như tôi nghĩ khi Hảo bảo với tôi rằng Hảo cũng biết những tình cảm riêng tư mà tôi dành cho Hiền. Dạo tôi đóng quân ở Hà Giang, Hảo học trường Tài chính - kế toán ở Vĩnh Phúc. Chúng tôi thư từ cho nhau luôn. Đến bức thư thứ bảy, Hảo thổ lộ là yêu tôi. Tôi viết lại là trái tim đã lỡ dành cho Hiền, niềm đau thì chưa chịu nguôi ngoai. Tôi còn viết rằng rất trân trọng những tình cảm mà Hảo dành cho tôi và xin Hảo cho tôi được làm một người bạn tin cậy nhất. Hảo đồng ý.
4. Hôm qua, đám thợ xây nhao nhao tranh cãi về mức thu nhập của các tầng lớp người trong xã hội. Cu Tuấn bảo: "Muốn có tiền thì phải có quyền. Quyền càng to thì tiền càng nhiều. Bố thằng bạn em làm giám đốc, nhà chả thiếu thứ gì, nó thì tiêu tiền như rác". Anh Quang bảo: "Ồi, chuyện đó xưa như trái đất. Khoan tính ở đây. Hãy tính thu nhập của những người thợ. Thợ xây 300 ngàn, phụ hồ 150 ngàn, thợ mộc 400 ngàn, thợ cơ khí 500 ngàn, như vậy chúng ta vẫn nằm trong loại thợ có thu nhập thấp. Vậy phải làm gì thêm để đủ sống, buổi tối tao đạp xe lai cũng kiếm đủ tiền học Anh Văn. Còn bọn mày?" Tuấn bảo: "Em chả có việc gì, thằng Thức, mày có đạp xe lai không?" Thức cười: "Thôi, người yêu tao là giáo viên, ngại chết". Anh Quang bảo: "Mày hỏng, rồi mày định làm thợ hồ, thợ xây mãi à. Mỗi người một việc, chúng mày không có khả năng thì đừng đứng đó mà so bì với người ta. Nếu chúng mày có khả năng thì phải biết vươn lên chứ. Tao học cái bằng “xê” này nữa là tao sẽ có việc làm nhẹ nhàng mà thu nhập cao đấy. Còn thằng Dũng, mày làm gì?" Tôi trả lời: "Em cũng chả có việc gì, à, thỉnh thoảng có viết lách. Anh Quang bảo: "Nghề đấy cũng khổ, mày có bằng cử nhân rồi, lo mà xin việc đi. Có khó khăn gì về vật chất cứ bảo anh."
Cách sống của anh Quang làm tôi kính nể. Anh ba mươi ba tuổi, chưa vợ, cũng từng là lính - lính đảo. Bố mẹ anh cũng giàu có nhưng anh cứ làm việc như một cỗ máy, sống chan hoà, thẳng thắn và hay giúp đỡ anh em bạn bè. Nhiều khi tôi nghĩ anh Quang đúng là mẫu người đàn ông chân chính.
5. Có lần nào đó khi thấy tôi bỏ việc đi làm phụ nề, mẹ tôi mắng: “Tôi thấy anh như thằng chán đời. Có lẽ, ngày xưa bà nội anh nói đúng đấy”. Ba tôi thì im lặng, tính ông vốn thế. Ông năm nay mới năm bảy tuổi mà tóc đã bạc trắng. Hồi trẻ cũng đánh đấm ra phết. Tiếp quản Sài Gòn rồi chuyển ngành, công tác ở một Nhà máy Quốc doanh và cũng lên đến chức trưởng phòng kế hoạch. Vì không ăn cánh với tay giám đốc, ông bị vu cáo là tham nhũng, trai gái. Sau đợt ấy, tay giám đốc mất hai cái răng cửa còn ông thì bỏ về quê sống cùng vợ con. Đôi khi tôi nghĩ, trong chuyện này ông còn đứng về phía tôi. Một lần ông bảo: "Đàn ông cần phải trung thực. Không có lý gì thằng Dũng phải làm việc ở những chỗ như thế". Mẹ tôi thì lườm: "Ừ, thì nó là con ông mà. Ông mà bây giờ còn khổ thế là cũng do trung thực mà ra cả đấy".
6. “Đừng tuyệt vọng, tôi ơi! Đừng tuyệt vọng... Em là tôi và tôi cũng là em...” Trịnh Công Sơn hát như vậy đấy. Ông ta đúng là một người kỳ dị, những bài hát của ông mới nghe thấy ngang ngang, càng nghe càng thấm nổi thương đời, thương người.
Không! Tôi nào có tuyệt vọng, chán đời gì đâu. Tôi yêu cuộc sống đến nỗi nhiều lần Thành phải thốt lên: "Mày lãng mạn bỏ mẹ". Còn Hảo thì bảo: "Phải thực tế hơn một chút Dũng ạ, có tuổi rồi". Tôi bảo: "Đôi khi mình thấy làm thợ cũng vui vui: Vô tư, yêu ghét rạch ròi và đỡ phải tiếp xúc với những khuôn mặt cặp da". Thành mắng: "Mày như cua, thế cái bằng cử nhân mày vứt xó à". Hảo bảo: "Nghề gì không quan trọng, chỉ sợ là Dũng thiếu trách nhiệm thôi". Tôi thấp giọng: "Ừ, có lẽ mình thiếu trách nhiệm trước cuộc đời mình". Hảo nói rằng: "Hôm qua Tú vừa gọi điện thoại về. Cái thằng vẫn tếu táo thế, bây giờ đã là bố của hai đứa trẻ và rất giàu có. Nó hỏi thăm Dũng đã xin được việc chưa, không thì ra chỗ nó làm. Nó bảo sắp về thăm quê".
Tú cũng là một mẫu người thành đạt. Nó cứ nói nói, cười cười mà giải quyết mọi công việc thật nhanh. Bây giờ, cũng mở công ty trách nhiệm hẳn hoi. Đôi khi tôi cũng thèm có được cái nguyên tắc sống của Tú hồi nào: Thách thức không hẳn lúc nào cũng đặt ra một sự lựa chọn khắc nghiệt: Khước từ hoặc chấp nhận. Hai khả năng ấy đều thiếu cân bằng trước thực tế, một mức độ giao thoa có thể, vẫn tốt hơn. Không biết giờ Tú còn nhớ không.
7. Sáng nay trước khi đi làm, Hảo ghé chỗ tôi bảo rằng sẽ nhờ ba Hảo giới thiệu cho chỗ làm việc mới. Tôi ngường ngượng, bảo với Hảo là sợ làm ba Hảo phiền lòng vì khả năng có hạn, tính tình lại ương ương. Hảo bảo: "Cứ đi làm đã biết đâu gặp được chỗ tốt". Tôi hỏi anh Quang, anh đồng ý. Tôi tự an ủi mình chẳng qua đây cũng là một dịp thử thách mới.
Tú ở Hà Nội về, bảo: "Mày làm việc với tao, lương tháng năm trăm ngàn". Tôi hỏi: "Làm gì?" Tú nói: "Thì làm sổ sách giấy tờ, khỏe re". Tôi bảo: "Nhưng tao không có nghiệp vụ". Tú xẵng: "Nghiệp vụ mà làm gì, mày chỉ kiểm hàng, viết giấy biên nhận, rồi giao dịch với khách hàng và cơ sở sản xuất, chỉ khéo một tý là xong". Tôi bảo: "Thôi, để mấy nơi tao nộp hồ sơ họ trả lời đã. Nếu không được, tao ra mày, kẻo uổng mấy năm học của tao". Tú mắng: "Đồ khùng, đời mày rồi khổ".
Tôi hỏi Tú: "Mày còn giữ cái nguyên tắc sống ngày xưa chứ". Bia vào, mặt đỏ gay, Tú cười hềnh hệch: "Bây giờ làm nghề này, lừa nhau như choé, chiếm dụng hàng, tiền hàng của thằng nào được càng lâu càng quý, mà người ta cũng lừa tao, cũng chiếm dụng của tao chứ tử tế gì, tao quên ráo rồi".
Nghe Tú nói, tôi cứ nghĩ là đến một lúc nào đó, người ta bắt đầu lợi dụng lòng tin để chiếm dụng cả tâm linh của nhau nữa. Đến lúc ấy sẽ thế nào nhỉ?
8. Không biết tôi đã từng đọc ở đâu đó người ta so sánh sự phê bình dưới lên và sự phê bình trên xuống như thế này: Một người đứng ở tầng một ném một viên gạch vào người đứng ở tầng hai, viên gạch không trúng vào người đứng ở tầng hai mà lại trúng vào đầu người tầng dưới. Còn người đứng ở tầng hai thì thong thả thả viên ngói cũng dễ dàng trúng vào người đứng ở tầng một. Ba tháng sau khi tôi đến chỗ làm việc mới mà ba Hảo giới thiệu cho, tôi mới thấy là sách đúng kinh khủng.
Tôi đi làm thợ trở lại. Điều này chỉ riêng Hảo hiểu tôi. Chỉ tiếc là tôi đã làm phiền lòng ba Hảo. Ông cũng là người cả một đời không phiền đến ai, cũng không để ai động đến mình. Sắp nghỉ hưu, người ta cũng sắp cho ông cái ghế đầu ngành.
9. Trước khi đi tìm anh Quang, tôi ghé trả lại Hảo cuốn băng Trịnh Công Sơn. mẹ Hảo hỏi: "Dũng lại đi làm thợ hồ à con. Đã đến lúc phải chín chắn hơn rồi Dũng ạ!" Tôi chưa kịp trả lời mẹ Hảo thì Hảo đã kéo đi: "Dũng nhớ gì không? Hôm nay là ngày giỗ của Hiền". Tôi thở dài: "Thế mà đã hơn mười năm rồi".      
Hảo bảo: "Dũng có nhớ quê nội Hiền có một dòng sông không, và cái lần cả bọn về thăm quê Hiền ấy". Tôi bảo: "Nhớ!" Hảo bảo: "Lần ấy trên bờ sông Hiền nói với cả bọn nhưng hình như cho riêng Dũng, rằng: Cần phải học theo thái độ của dòng sông, gặp khó khăn, trở ngại thì đi vòng để tránh, chứ không đi lui". Tôi nói: "Ừ, đó là buổi chiều, sau cái lần mình bảo lưu một quan niệm về văn chương trước thầy Mai dạy văn và đã phải xơi điểm bốn". Hảo bảo: "Thế đấy, Dũng nhớ về Hiền, sao không nhớ là cần phải học theo thái độ của dòng sông". Tôi im lặng thắp hương, Hảo cũng lặng lẽ cắm hoa trên bàn thờ Hiền, hình như cả hai chúng tôi đang nhớ về Hiền.
            Nhìn những bông Huệ trắng vướng vào mái tóc dài của hảo, tự nhiên tôi thấy Hảo thật giống Hiền cuả tôi ngày nào. Chắc chắn, tôi  sẽ nói với Hảo điều này./.

Hà Tĩnh, năm 1996

 
 

TÔI VÀ CHỊ THƯƠNG

                                        
1. Buổi sáng giao mùa, hiu hiu buồn như một cô gái lỡ thì. Không nắng, không gió và oi nồng một cách khó tả. Tôi ngồi một mình, lơ ngơ nghĩ về những ngày đã qua và tự hỏi: Liệu rồi đến một lúc nào đó, số đông con người có thể cô độc đến hết cuộc đời không?!
Tuấn vô cớ bỏ đi. Tôi lặng lẽ viết tiếp vào trang đời mình hai chữ “Cô độc”. Rồi ngơ ngẩn nghĩ: Chẳng lẽ thiên chức của phụ nữ là chờ đợi như người ta vẫn thường nói ư? Nếu thế thì mình sẽ chờ đợi đến bao giờ?!
Thỉnh thoảng Tuấn vẫn đến chơi nhà. Tuy nhiên hai chữ “Cô độc” nghiệt ngã tôi tự viết cho đời mình ấy không thể xoá được nữa, ít ra cũng đối với Tuấn.  Tôi có quyền làm như vậy. Kể cả sau đó một thời gian, khi thất bại với mối tình mới, Tuấn tỏ ra muốn đặt vấn đề quay trở lại, tôi cũng phải tự răn mình: Không thể!. Rồi lại tự hỏi: Như thế có nghiệt ngã quá đối với Tuấn không?
Cũng may, mấy hôm sau, ngoài đường tôi đã thấy Tuấn phóng xe vù vù chở đằng sau cái mối tình mới trẻ trung và đẹp đẽ. Tuấn là thế, tiếc làm gì. Tôi tự nhủ như vậy.
Ba tôi bảo: “Tuấn cũng giống Phi, không đáng tin cậy”. Mẹ tôi phụ hoạ: “Loại đàn ông ba lăng nhăng ấy không phải dành cho con”. Tôi lảng ra và không hoàn toàn đồng ý với ba mẹ. Thà cứ để nỗi đau âm thầm vò xé, hoặc nếu không có nỗi đau nào thì cứ để lòng mình dửng dưng vô cảm là được rồi. Tôi không thích người ta coi chuyện giữa tôi và Tuấn là chuyện đáng đưa ra để bàn luận hoặc coi đó là câu chuyện nghiêm trọng. Tính tôi vốn thế.
 Nhớ một đêm, sau khi đi dạo một vòng ở ngoại thành về, khi ở trên sân thượng nhà tôi, Tuấn nói một câu rất lãng mạn, hình như coppy ở đâu đó, rằng: “Ước gì  những ngôi sao kia là muôn vàn con mắt Như, để Như bao giờ cũng nhìn thấy anh, và ở đâu, lúc nào anh cũng được ngắm nhìn muôn vàn đôi mắt Như”.
Lúc nghe Tuấn nói câu ấy, tôi đã sướng điên lên mà không nghĩ rằng sau này mình có thể cay đắng nghĩ hoàn toàn khác: Nếu mắt tôi mà như muôn vàn ngôi sao kia thì tôi sẽ thấy Tuấn dối trá và phản bội tôi nhiều lắm.
Mấy đứa bạn cũng nói rằng mắt tôi buồn và đẹp, “ Đẹp đến nao lòng. Thằng con trai nào không đâm đầu vào đấy chỉ có dở hơi”, Nhung - bạn gái thân nhất của tôi đã bảo vậy. Và, đôi khi hứng lên, tôi cũng nghĩ như vậy. Thế mà Tuấn đã “dở hơi” mà dứt khỏi nó không một chút thương tiếc. Cũng giống như Trung, như Hiệp ngày xưa đã từng dở hơi dứt khỏi nó. Đôi khi, nhìn Tuấn khi Tuấn đã tỏ ra muốn quay trở lại, tôi chỉ nghĩ: Có lẽ Tuấn chỉ thấy không thể bỏ được một thói quen. Mà thói quen thì dễ đánh lừa con  người ta lắm, ai đó bảo rằng: “Thói quen ban đầu chỉ là tơ nhện, sau đó là dây thép”. Đối với Tuấn, thói quen đến với tôi có lẽ cũng đã như dây thép chăng. Tuy nhiên tôi cũng không dám khẳng định như thế, vì người ta khó có thể bỏ được một thói quen, nhưng người ta lại có thể thay thế nó bằng một thói quen khác.
2. Nắng, gió và cả trăng của mùa thu nữa, đã trải ra hào phóng cho những cặp tình nhân và cho những người chớm mùa yêu. Mùa hạ chẳng để sót lại một thứ gì, có chăng chỉ để lại một chút buồn trên gương mặt tôi và chị Thương.
Chị Thương bảo: “Đừng buồn. Bây giờ em đã có Phú cơ mà”. Đang nghĩ về những chuyện lung tung và vớ vấn của tôi và Tuấn những ngày còn nhau, chị tôi cắt ngang và tôi gắt toáng lên: “Còn chị đấy. Chị phải biết là chị chẳng hơn gì tôi”. Tôi đã bổ bả quát vào mặt chị Thương như thế và chị tôi đã khóc. Rồi tôi cũng khóc theo. Nếu có ai nhìn thấy chị em gái chúng tôi như thế chắc họ cám cảnh lắm, và chắc họ sẽ chép miệng: “Con gái có thì...”
Chị Thương là người lãng mạn và rất mỏng manh, dễ vỡ. Chị bảo: “Đôi khi gặp thằng nào chằm chằm nhìn mình, tức điên lên muốn trừng mắt nhìn lại cho bỏ ghét nhưng rồi lại phải cúi đầu lẳng lặng bỏ đi chỗ khác và nhủ thầm: Không đáng”.
“ Không đáng” như thế nên bây giờ chị cũng đã qua đến bốn, năm mối tình gì đó nhưng chưa có mối tình nào kết thúc ở chỗ hôn nhân. Và, đã ba năm nay chị cứ như vậy mà từ chối hết đám này đến đám nọ, khi người ta có ý định đặt vấn đề tìm hiểu. Một thày giáo, một lái xe ô tô cho cơ quan Nhà nước, một kỹ sư cầu đường, một chủ cửa hàng điện tử đều không đến chơi nhà lần thứ tư nữa khi chị vừa lắc đầu vừa nhận xét: "Không hợp", hoặc: "Hoàn toàn trái ngược". Chị Thương vẽ chân dung họ như thế này: Anh lái xe thì nói chuyện lúc nào cũng “Biết  làm thế nào được” hoặc “Chẳng thể khác được”, và chị kết luận: “Sao đàn ông lại có thể nói như thế”. Anh chàng kỹ sư cầu đường thì: “ít nói vì không buồn nói những chuyện vặt vãnh hay đầu óc rỗng toang không có gì để nói”. Ông chủ cửa hàng điện tử thì: “Trang sức là một phần làm nên con người anh ta”. Sau những lần như thế, chị nói như thanh minh cùng ba mẹ: "Con chẳng kén chọn gì đâu, chẳng qua nó cứ thế nào ấy". “ Nó cứ thế nào ấy” như thế nên thành ra đến bây giờ chị vẫn ở với bố mẹ và tôi.
Đúng là “Nó cứ thế nào ấy” thật, và trong những trường hợp này tôi thấy chị đã đúng. Nhưng liệu rồi đến bao giờ chị mới tìm được người đàn ông cho mình. Tôi bỗng thấy lo cho chị và lo cả cho mình nữa.
Hôm chú Thanh - bạn của bố tôi đến chơi nhà, nhìn chị em tôi, chú đã không tế nhị lắm mà buột miệng: “Cô chị có đi, cô dì mới lớn”. Và, có lẽ biết mình hơi lỡ lời, chú nói thêm: “Nói thế chứ còi to thì vẫn cho vượt, Thương nhỉ”. Đêm ấy chị đã khóc sướt. Tôi cũng không an ủi nổi chị.
Nhiều lần tôi bảo chị: “Chị cứ sống với kỷ niệm mà làm gì, ở đó có gì đâu. Có chăng chỉ là mấy bông hoa hồng khô mà chính người mua tặng cũng không biết hết vẻ đẹp của nó. Rồi sau đó là những tối chơi khuya. Những giận hờn, tủi khóc. Những làm lành và đổ vỡ. Nào có gì đâu”. Và, chị cũng gắt toáng lên với tôi: “ Em không hiểu gì cả. Có những điều sâu nặng lắm”. Rồi hạ giọng: “Có những điều không thể quên”.
Vâng, có những điều không thể quên”, giống như người ta không thể quên những thói quen thường nhật. Giống như tôi không thể quên được mùi mồ hôi của Tuấn. Thật đơn giản và cũng thật rối rắm, phức tạp.
Đôi khi tôi cứ nghĩ: Không biết Tuấn và Phi - “người hiền” của chị Thương cách đây 3 năm có cùng “một giuộc” không. Chị và Phi thế, tôi và Tuấn cũng có kém gì đâu, “cũng sâu nặng lắm, cũng có những điều không thể quên”.
Tôi cố tỏ ra cứng rắn nói với chị Thương: “Bây giờ chuyện tình lỡ đầy rẫy ra đó, kể cả phim ảnh, sách báo. Có gì ghê gớm đâu. Thằng đàn ông nào cũng như thằng đàn ông nào: tham ăn, cả thèm, chóng chán là phẩm chất của họ”. Chị Thương không nói gì, chỉ ngân ngấn nước mắt. Và, bỗng dưng tôi thấy thương chị vô cùng.
3. Phú cũng không phải để giành cho tôi. Và tôi cũng không thể chấp nhận Phú. Phú con bác Hân, là bạn thanh niên xung phong từ thời Trường Sơn của mẹ. Phú công tác ở Hà Nội, thỉnh thoảng có về thăm nhà. Ban đầu, vì một lời hứa của bác Hân và mẹ trong khoảng giữa hai lần máy bay Mỹ cắt bom xuống Trạm giao liên trên dãy Trường Sơn ngày xưa, mà hai nhà có ý vun vào cho chị Thương. Nhưng không hiểu sao, Phú lại thích tôi. Những lúc Phú đến, tôi nhất định không ra tiếp chuyện, Phú chỉ nói chuyện với chị Thương một lát rồi về, thường thì chỉ hỏi dăm câu, rồi chả biết nói chuyện gì nữa. Lúc nào vô tình có cả tôi ở đó, Phú ngồi chơi lâu và câu chuyện chỉ hướng về tôi. Mẹ tôi thở dài: "Thôi thì..." rồi nhìn chị Thương đánh tiếng và thăm dò. Tôi hiểu vế lửng của câu mẹ nói. Nhưng tôi không thể. Chị Thương mỏng mảnh thế, dễ vỡ thế, tôi đâu dám.
Phú hơn chị Thương ba tuổi và hơn tôi năm tuổi, nước da trắng xanh, trông rất đứng đắn và lễ phép. Phú là mẫu hình đàn ông mà không ít thiếu nữ mơ ước. Tuy vậy, tôi thấy Phú không phải giành cho chị Thương. Đôi khi tôi cứ nghĩ, "may mà... không thì..." Chị Thương liệu có sống nổi không. Chị yếu đuối thế. Nhưng rồi một lần, chị Thương chủ động bảo: “Phú không phải là tạng chị thích”. Tôi thở phào như vừa sửa được một khuyết điểm lớn.
Thỉnh thoảng Tuấn vẫn đến chơi nhà. Vẫn tỏ ra muốn trở lại sau khi đã trở về từ ba, bốn mối tình khác. Tôi hoang mang và cấu vào tay mình để tự nhắc nhở, cảnh báo. Và, cho đến khi Tuấn ra về tôi vẫn giữ được một thái độ đúng mực. Sau đó, tôi thấy như mình vừa trải qua một kỳ sát hạch gay go nhất trong đời và tôi tự cười mình: Việc gì cứ phải gồng lên như thế, rồi cũng quên cả thôi, như đã từng quên Trung, quên Hiệp.
Hôm sau, Thảo, rồi Dung - bạn gái của tôi gọi điện đến rối rít thông báo: Bỏ ngay ý định ấy đi, hôm nay bọn tao thấy Tuấn và Mai Hoa vui vẻ với nhau trên đường ra biển, tình tứ lắm. Mày đừng có ngu mà bị lừa lần nữa đấy nhé!”
Tôi tỏ ra dửng dưng khi đón nhận thông tin, đón nhận lời khuyên bảo ấy nhưng lại nặng nề buông mình xuống gối, nghĩ: Sao Tuấn lại có thể như thế được nhỉ. Chị Thương lo lắng: “Thôi, coi như chấm dứt”. Tôi bảo: “Chấm dứt lâu rồi. Nhưng cũng giống như chị với anh Phi ấy”. Rồi lại cảm thấy lỡ lời đối với chị Thương. Nhưng chị lại bảo: “ Đối với Phi chị có còn gì nữa đâu”. Rồi lảng sang chuyện ở cơ quan, dường như để dấu đi một nỗi đau vừa trỗi dậy.
4. Đã lập thu. Thời tiết có vẻ không là chuyện đáng bàn ở những câu chuyện của người lớn nữa. Sáng nay chị Thương bảo: “Hôm qua, chị mời anh Khôi - anh chàng học cùng lớp Anh Văn tối nay đến chơi nhà. Em chuẩn bị dùm chị. Đi làm, nhớ ghé mua cho chị mấy bông hoa”. Và chị đùa ý nhị: “Cô chị có đi, cô gì mới lớn...”
 Còn lại một mình tôi nghĩ: Không biết khoảng bao lâu nữa tôi mới có thể như chị được nhỉ.
Rồi anh Khôi tới. Loay hoay tìm chỗ để chiếc xe máy mà tôi đoán là cho chắc chắn, vì thấy anh ta dựng chân chống giữa của xe máy lên. Tôi nghĩ một mình: Đây là mẫu đàn ông chín chắn, cẩn trọng đây, không biết có hợp với chị Thương không. Tôi làm nhiệm vụ mở khoá cổng rồi lấy nước uống và rút lui.
Khôi về, tôi đưa chuyện này nói với chị Thương, chị chỉ bảo :”Em đa nghi quá”. Rồi hát một đoạn trong bài “Ru đời đi nhé” của Trịnh Công Sơn.
Đôi khi tôi cứ nghĩ chị Thương đến với Khôi như là một cái cớ để tìm cách làm cho ba mẹ và tôi thấy rằng mình cũng chưa phải là đồ bỏ đi, kiểu: “Con mới hai mươi chín tuổi có gì mà ba mẹ cứ lo lắng, cuống cuồng lên như thế”. Nhiều lúc tôi thấy tay Khôi này có vẻ khó mà hợp được với chị Thương.
Dạo này tôi để ý thấy chị Thương vui nhiều lắm. Chị vui như hồi còn yêu Phi. Chị mua hoa, chị mua vải màu hồng may ri đô cửa sổ. Và, chị bắt đầu viết nhật ký. Tôi cũng vui cùng chị. Rồi khi chị đang ngất ngây với mối tình mới ấy thì tôi có tin Khôi đã là cha của hai đứa trẻ và là chồng của một cô giáo trường làng ở quê cách thị xã, cũng là cách nhà tôi sáu mươi cây số. Tất nhiên chỉ tôi biết chuyện này.
Một lần, sau buổi tối đi chơi khuya về, tôi đợi chị và hỏi chị: “Thế anh ta có nói chuyện cưới xin gì không”. Chị Thương trả lời, mắt vẫn long lanh không giấu được thường thấy ở những người đang yêu: “Anh ấy có nhắc đến, nhưng chị bảo từ từ, khi nào thật sự thấy rằng người này sống không thể thiếu người kia và ngược lại thì mới cưới”. Chị hồn nhiên thế, tôi nào nỡ dám nói gì.
Để cho chắc chắn, tôi rủ Nhung về tận quê Khôi. Trên đường đi tôi cứ mong rằng đó không phải là sự thật, rằng Khôi là một người đứng đắn, rằng Khôi chưa lập gia đình, hoặc thậm chí đã có gia đình thì cũng đã ly hôn rồi. Nhưng rồi tôi đã thất vọng. Cái Nhung bảo: “Tao thấy mày xanh xám như hồi Tuấn bỏ mày chạy theo đứa khác”. Không, tôi chỉ buồn và thương chị thôi chứ không tỏ ra cay nghiệt như đối với Tuấn dạo nọ.
5. Rằm Tháng Tám, Phú về. Tôi nhận lời đi chơi cùng Phú trước con mặt ngạc nhiên và lẫn cả vui mừng của ba mẹ và chị Thương.
Tôi đã nhờ Phú chở đi gặp Khôi. Ở quán Cà phê, sau khi đã xong những thăm hỏi, những xã giao, nhè lúc Khôi cao hứng nói về chị Thương, tôi hỏi Khôi: “Thế bao giờ anh bỏ vợ ở quê?” Khôi sững ra rồi rũ ra. Sau những phút im lặng giả tạo, Khôi kể lể với cái giọng cố tỏ ra ảo não, đại ý rằng: “Bấy lâu nay anh sống với vợ mà không có tình yêu. Rằng đó là địa ngục chứ không phải là gia đình và anh sẵn sàng bỏ mụ ta. Tuy nhiên còn những đứa con, chúng nó có tội tình gì...”.
Trên đường về Phú nói: “Anh không đáng bị lôi vào những chuyện thế này”. Rồi lẩm nhẩm: “Mất cả hứng”. Tôi không nói gì, chỉ mãi nghĩ về chị Thương. Không biết có nên nói cho chị biết ngay bây giờ không? Tôi hỏi Phú, Phú bảo: “Anh không biết”. Tôi lại chợt nghĩ rằng: Không biết ở Hà Nội, những giờ phút rảnh rỗi thì Phú làm gì.
Phú chở tôi về nhà, rồi về luôn mà không vào nhà, thái độ tỏ ra chán nản, hậm hực. Ba mẹ và chị Thương nhìn tôi ngơ ngác. Tôi nhận thấy đây là lần đầu tiên Phú tỏ ra như thế. Trước nay, Phú chưa bao giờ làm mất lòng ai. Chỉn chu, lễ phép đến mức ỏn ẻn. Đối với Phú tôi cứ có cảm giác là giao cho anh ta việc gì anh ta cũng hoàn tất, hoàn tất mọt cách tốt đẹp. Với Phú, không có vấp ngã, không có sai lầm. Lần này có lẽ Phú không giữ được bình tĩnh nữa, hay cái vẻ chỉn chu, lễ phép bên ngoài đó không phải là bản chất của Phú, và bây giờ anh ta không giữ nổi nó nữa. Rồi lại độ lượng mà nghĩ: “Kể cũng bất công thật, Phú có nhận được gì từ mình đâu”.
Đã có những cơn mưa và cả chút gió se lạnh đầu mùa. Đêm, một mình nghe được cả mùi vị ẩm ướt của nền đất gặp mưa, cả tiếng cây lá xao xuyến dưới những giọt mưa mỗi lúc một nặng hạt. Cây đèn đường trước cửa nhà hắt một chút ánh sáng vàng vọt lên ô cửa kính mờ mờ hơi nước. Nó trông giống như một người lính gác già cần mẫn với đôi mắt quầng thâm, mệt mỏi, cứ đứng như thế trong đêm khuya chỉ với ý thức sự có mặt của mình sẽ làm cho mọi người yên tâm và say sưa trong giấc ngủ an bình.
Đã nhiều lần, tôi tự cho mình là người cứng rắn. Cứng rắn hơn chị Thương nhiều lắm. Chả thế mà nghề nghiệp tôi chọn cũng rất khác chị Thương. Tôi làm trong một công ty chuyên sản xuất linh kiện điện tử. Còn chị Thương là một cô giáo dạy văn ở một trường chuyên.
Hồi nhỏ tôi tự cho mình là ngang ngược bằng cách luôn trêu chọc chị Thương và chê chị là đồ “ mít ướt” vì chị rất dễ khóc. Học cấp ba rồi, tôi vẫn cắt tóc ngắn, học và chơi lẫn lộn giữa đám con trai. Còn chị Thương vẫn lặng lẽ với những nhật ký, những sổ chép thơ, và đặc biệt là một góc học tập đầy hoa hồng khô. Bó thì treo ngược trên tường, bó thì cắm vào cái ống tre được cưa gọt rất khéo léo do ba tôi làm cho, để rất có chủ ý trên bàn học.
Cứ tưởng rồi mình sẽ như thế mãi. Không ngờ khi gặp Trung - học trên tôi một lớp, là cây toán xuất sắc nhất của trường, đạt được cả giải quốc gia, thì tôi mới biết là mình chưa từng và chưa bao giờ là người cứng rắn. Ngược lại, tôi còn thấy mình yếu đuối ghê lắm.
Yếu đuối như thế cho nên khi Trung đi du học và bặt tin luôn và nghĩ rằng Trung đã quên mình như quên một đôi dày cũ, lạc mốt, thì tôi đã ngã vào Hiệp mà không biết mình có yêu cái anh chàng “Chả được cái nết gì” - như lời cái Hoa, bạn gái cùng phòng từng nhận xét về Hiệp, bấy lâu nay vẫn theo đuổi hay không.
Thế là giữa đám bạn gái cùng phòng với những ri-đô, bếp điện, nồi niêu và những khái niệm: nào là góp gạo thổi cơm chung, là hợp đồng yêu có thời hạn, là những cử nhân khoa học tình yêu... thời sinh viên ấy, tôi đã cảm thấy không còn bị lạc lõng. Trung đã không vượt qua lẽ thường thì tội gì tôi phải khác mọi người cơ chứ. Lúc ấy tôi đã tự dối mình mà nghĩ như thế và cảm thấy mình không yếu đuối tý nào.
Hiệp đã rất tự hào khi nghĩ rằng bằng sự gan lỳ anh ta đã chinh phục được tôi. Tự hào đến nỗi nhiều khi Hiệp vẫn hỏi: “Không biết em yêu anh vì lẽ gì? Không phải trai Hà Thành, không là con một, bố không làm sếp, nhà không mặt tiền, quê cũng ở một vùng chó ăn đá gà ăn sỏi. Vậy thì cớ gì một cô gái xinh đẹp như em lại yêu anh, hả?” Lúc ấy tôi đã không biết trả lời Hiệp như thế nào, và chắc rằng, chính mình cũng không hiểu tại sao lại như thế.
Thế rồi tốt nghiệp, ra trường, tôi và Hiệp chỉ cách nhau một chuyến xe đi, nhưng quyền là ở Hiệp. Chả lẽ con gái lại lặn lội tìm đến với đàn ông ư, rồi người ta sẽ nghĩ gì. Và, liệu rồi cái anh chàng không đủ can đảm vượt một trăm năm mươi kilômét đường nhựa ấy để đến với niềm tự hào của anh ta một thời có đón nhận tôi không. Và, tôi đã đợi. Đợi như thế cho đến ngày nghe tin Hiệp qua một người bạn học cùng trường ở Hà Nội về miền Trung quê tôi công tác. Thì ra, anh chàng ấy đã có hai nhóc con rồi và chấp nhận làm một ông giáo trường làng.
Và thế là, tôi lại yếu đuối trước câu tỏ tình rất đúng lúc của Tuấn.
6. Khôi đến thưa dần. Như thế chị Thương lại càng có lý do để ra khỏi nhà. Tôi chưa dám tiết lộ điều kinh khủng kia với chị. Chị vẫn đi chơi khuya, vẫn tràn trề hạnh phúc, và vẫn viết nhật ký.
Có lẽ sắp hết mùa Thu. Cây bàng trước ngõ lá đã thưa dần, những cành cây khẳng khiu, xanh xám vươn ra, khô cằn như một người đàn bà luống tuổi mà chưa có chồng. Không hiểu sao, khi gió lạnh về, khi mà màu sắc đủ loại bắt đầu phô ra trên áo mũ của phụ nữ, tôi lại có cảm giác thương xót cây bàng già trước ngõ. Và, rồi cái cảm giác ấy cũng qua đi khi nghĩ rằng, “đàn bà không nên nhạy cảm quá như thế, sẽ khổ lắm” - Phi mối tình khó quên của chị Thương đã nói như thế.
Phi là người lãng mạn, quê miền biển và rất yêu biển. Là một trí thức hẳn hòi, có cả làm thơ nữa. Và rồi cũng nông nổi, thất thường và bất ngờ như những con sóng của biển, anh ta bỏ đi. Đi đâu không ai biết. Chỉ biết rằng sự lựa chọn cuối cùng của Phi không phải là chị Thương, mà như anh ta đã có lần từng lưỡng lự: “Không biết có nên tồn tại trong một gia đình hai cái tâm hồn lúc nào cũng sẵn sàng cất cánh”.
Bẵng đi một dạo, tôi lại nhận được một cái tin nữa về Khôi: Vợ anh ta ở quê đã sinh đứa thứ ba, tất nhiên giống Khôi như đúc và người ta đã cho cô ta nghỉ dạy luôn để ở nhà chăm sóc những đứa con thơ dại. Tôi cứ nghĩ: chị ta thật tội nghiệp, cứ sống, cứ chăm sóc con cái, cứ sòn sòn những kết quả của yêu thương, mà không biết rằng, ở một nơi xa nào đó, chồng mình gọi mình bằng “mụ ta” và gọi gia đình mình là “địa ngục”. Mà nói chung người đàn bà nào cũng thật tội nghiệp, bất cứ lúc nào đàn ông cũng có thể dối trá họ được.
Tôi không nhịn được nữa, gặp Khôi tôi hét toáng lên vào mặt anh ta với một vẻ mỉa mai cay độc "Anh không thể vừa yêu chị tôi vừa sòn sòn với vợ như thế được. Hãy buông tha cho chị tôi và hãy về nhà mà chăm sóc đàn con - kết quả của sự không - yêu - thương - gì - cả của anh đi”.
Rồi cũng với sự tức tối như vậy, tôi đã nói hết cùng chị Thương. Chị đón nhận dửng dưng rồi buột miệng: “Nhưng trông cũng tồi tội”. Tôi gắt lên với chị: “Ngay cả khi biết nó đã có vợ?” Chị nhắc lại như một cái máy vô hồn: “ Ừ, ngay cả khi biết nó đã có vợ!” Đến lúc này tôi mới thực sự hiểu hết con người chị. Hiểu những điều mà có lẽ ba mẹ tôi sinh chị ra, rất thương chị nhưng cũng chưa bao giờ hiểu nổi con gái mình.
Chị hỏi điều tôi không ngờ: “Phú thế nào rồi, nó vẫn gọi điện cho em đấy chứ”. Tôi hồn nhiên kể: “Vẫn, nhưng thưa hơn. Và, cũng đã nghe tin từ mấy đứa bạn ở Hà Nội, rằng anh ta đã có người yêu”.
Chị lắc đầu buồn bã, nói một câu ở đâu đó trong Kinh thánh, rằng: “Kẻ nào có rồi sẽ được cho, kẻ nào chưa có người ta sẽ lấy đi cái nó có”.
7. Mùa đông như một con ác thú đối với những người cô độc. Ngay cả đường phố thường ngày náo nhiệt là thế, bây giờ cũng rúm ró trong những đợt gió mùa. Cây bàng trước ngõ lại càng xanh xám, khẳng khiu.
Bác Hân sang nhà đưa cái thiệp mời đám cưới của Phú. Tôi hỏi: “Thế anh ấy lấy ai hở bác?” Bác Hân tỏ ra ngạc nhiên: "Thế nó không nói gì với con à?” Rồi bảo: "Cái thằng đến tệ. Nó lấy con bé làm cùng cơ quan, cả đến hai bác bên nhà cũng chưa biết mặt, chỉ mới biết nó qua ảnh”. Rồi như để an ủi tôi và để chữa thẹn với mẹ về một lời hứa xa xôi nào đó, bác bảo: “Thằng Phú nó bảo nhìn ngoài nó giống con lắm”. Quay qua mẹ tôi, bác bảo: “Thanh niên bây giờ khác xa so với chúng mình ngày trước nhiều quá?”. Rồi lại lẩm nhẩm một mình: “Chúng nó đến tệ. Thôi tôi phải về chuẩn bị ra cùng chúng nó, rồi cũng phải quay vào làm mấy mâm cơm mời họ mạc, láng giềng, bạn bè trong này”.
Bác Hân về, mẹ tôi buồn buồn và nhìn tôi có vẻ trách móc. Tôi thì lại thấy lòng mình dửng dưng, dửng dưng đến không nhớ nổi cả khuôn mặt của Phú như thế nào nữa.
8. Chị Thương đã cắt tóc ngắn, gương mặt thanh thoát “giống mẹ như đúc” - như ba tôi thường nói, trở nên đầy đặn và tươi trẻ hơn. Chị may một lúc ba bộ quần áo mới, bộ nào chị mặc vào cũng đều trông rất đẹp nhưng lại có một vẻ gì đó thật bí hiểm.
Rồi chị đem đống kỷ niệm ra, khi tôi đang lo lắng với ý nghĩ rằng chị sẽ đem đốt chúng đi, thì chị lại tỏ ra vui vẻ: “Chị xem lại lần cuối và chị sẽ cất nó trong đáy tủ. Như thế hàng ngày đỡ phải trông thấy nó”. Tôi hỏi: “Thế những bó hoa hồng khô?”. Chị bảo: “Riêng nó, vẫn giữ nguyên. Chị thèm được nhìn nó ngắm hàng ngày”.
Tôi cứ nghĩ: Có lẽ chị đang chuẩn bị để thực hiện một điều gì đó, rất bí ẩn. Rồi lại nghĩ: Không biết mình có nên làm như chị Thương không.
Chủ nhật mùa đông, cả gia đình quây quần ấm cúng trong bếp. Chị Thương bảo: "Hôm nay là sinh nhật con, phải để tự tay con làm các món chiêu đãi cả nhà”. Tôi ngạc nhiên: Đây là lần đầu tiên kể từ năm hai mươi tuổi, chị tôi mới làm lễ sinh nhật.
Có lẽ chị Thương sẽ quyết định lật sang một trang đời mới. Ở cái trang mới đó, tôi thấy có vẽ một bức tranh: Một thiếu nữ không còn trẻ nữa, khuôn mặt đẹp và buồn - một nỗi buồn trong sáng và nhân hậu, ôm trong lòng một bó hoa hồng khô, mắt nhìn đâu đó xa xăm, như hoài niệm xưa cũ, như chờ đợi, và như cả hướng về tương lai nữa.
Còn tôi, tôi cũng sẽ làm như chị Thương, tuần tới tôi sẽ tổ chức lễ sinh nhật của mình. Sinh nhật của một thiếu nữ hai mươi bảy tuổi như tôi sẽ có những thứ gì nhỉ: chắc chắn sẽ không có nến, tôi sẽ tự mua tặng mình một cỗ xe tam mã thần kỳ, trên chiếc xe đó tôi thấy không có Trung, không có Hiệp, không có Tuấn, không có Phú, không có những gã trai và những thứ tình yêu vớ va vớ vẩn nữa. Chỉ có tôi và Chị Thương cùng với cỗ xe tam mã thần kỳ bay về một phương trời xa lắc nào đó. Có thể ở phương trời ấy, một ngày kia những người phụ nữ không còn phải thực hiện cái thiên chức Chờ đợi cố hữu mà tạo hoá đã ban cho họ nữa./.

Thu 1999

 
 

MONG MANH CẦU VỒNG

                                                        
1. Sắp hết năm, công việc cứ dồn lại, bày ra, làm không hết. Thật bực. Đã bảo Hải để ra năm làm lễ chạm ngõ, cứ nằng nặc đòi dịp Tết. Cái Hiên nữa, cưới vào Hai mươi tám tết thì thân mấy cũng khó mà bỏ việc nhà. Ông Thủ - Trưởng phòng còn bảo: “Phân công cái Hà viết báo cáo thành tích của phòng, cả bản thành tích cá nhân nữa, cuối năm lĩnh thưởng, ăn tết”.     
Tất cả cứ rối lên.
2. Hải đến, rủ đi uống cà phê. Lại cà phê. Sao không là thứ giải khát, giải trí khác. Ở đây, người ta thật lạ.
Đường phố lâm râm gió mùa. Tôi xuýt xoa ngồi lên sau xe Hải. Hải bảo: “Cứ thả lỏng cơ ra, đừng căng lên như thế, đêm vừa mỏi vừa khó ngủ”. Tôi bảo: Đúng là bệnh nghề nghiệp. Chuyên môn của Hải chỉ để phát hiện ra những điều ấy sao. Chỗ ấy họ trả lời sao rồi?” Hải trả lời: “Chưa, còn thiếu màu”. Tôi nói với Hải là hồi tôi xin việc có thế đâu. Hải bảo: “Ngày xưa khác. Bây giờ ra ngõ là gặp cử nhân, khó lắm”. Tôi bảo: “Sao không cố mà thi đỗ năm đầu. Chậm chân thì chịu”. Hải vớt vát: “Đã cố, nhưng không xong”.
Cà phê nghe mùi khét, đắng khắt. Tôi tự nhủ: Chắc sẽ khó ngủ lắm thôi.
Tôi hỏi: “Sao vội thế?”. Hải hỏi lại: “Vội gì?”, rồi lại tự trả lời: “Việc hai nhà gặp gỡ ấy à?”. Hải tiếp: “Cho ổn định, với cả bố mẹ anh cũng nhiều tuổi rồi. Tuổi già mong manh lắm, anh lại là con một”.
Uống hết ly cà phê, không thấy ấm hơn được chút nào. Có lẽ phải thức viết báo cáo thôi.         
3. Ông Thủ đến sớm, quát nhặng lên: “Các người ghê thật, cứ cậy thế gần hết năm, phòng ốc để như cái bồn rác. Dọn dẹp đi, Giám đốc xuống kiểm tra thì cắt thưởng”.
Ừ nhỉ, sao bây giờ mình mới nghĩ ra. Sang năm cưới rồi thì ở đâu. Hải thì ở quê, cách thị xã những tám mươi cây số, việc làm chưa đâu vào đâu. Chẳng lẽ lại ở nhà mình. Không được, chật chội. Còn thằng Phương, con Loan đang đi học. Tính sao. Hải thì con một.
Có vấn đề rồi đây. Nhưng Hải đã quyết thế, chắc đã có phương cách. Sao lâu nay không đứa nào nhắc đến chuyện này.
Ông Thủ lại hoánh lên: “Nên nhớ các cô đang làm hợp đồng đấy. Mong manh lắm. Lơ mơ người ta cắt, hiểu chưa. Sáng nay tôi bận tý việc, ai hỏi, các cô bảo là tôi đi công chuyện”.
Ông Thủ vừa ra khỏi cửa, bà Hòa đã nháy mắt với Kim Anh bảo: “Đi chữa cháy cho giám đốc”. Tôi trợn mắt: “Cháy gì, nhà giám đốc cháy gì?” Kim Anh cười phá lên. Bà Hoà hạ giọng: “Đồ ngu, ngày xưa cháy là cháy. Bây giờ nhiều đám cháy không lửa, không khói mà tiêu ma cả của cải, sự nghiệp, danh dự hiểu chưa”. Chừng như thấy tôi chưa sáng ra tý nào, bà Hoà giảng tiếp, giọng khào khào: “Một giám đốc danh tiếng là thế, lại đi sờ vú nạ dòng. Rồi đuổi việc nó, nó ức, nó tố cáo, kiện tụng, um lên. Không khéo mất ghế. Ông Thủ đi chữa cái đám cháy đấy, hiểu chưa”. Tôi bảo: “Chuyện thế sao em không biết”. Kim Anh ra giọng hiểu biết: “Mày ngơ ngơ, mà biết làm gì, đang làm hợp đồng như mình, nói ra, nói vào, mất việc như chơi”.
Tôi im lặng, chúi mũi vào đống sổ sách, nghĩ: Trong những cuộc đấu như thế này, khán giả chẳng được lợi lộc gì cả. Không khéo còn vạ vào thân. Ừ, tốt nhất là im lặng.
4. Chiều chủ nhật mùa đông lạnh lẽo và đầy tâm trạng như một gã đàn ông ngồi một mình trước ly cà phê, hay như một đứa con gái ngồi một mình trước đống kỷ niệm mà không biết nhặt lên trên tay cái gì đầu tiên.
Đang buồn bã thì Hiên ào đến: “Mày chở tao đi một vòng, còn vài chục ngày nữa, sắm sanh dần là vừa. Để đến hôm ấy, bao nhiêu việc lại rối lên”.
Hiên là đứa sướng. Người ta bảo nó là đứa con gái năng động. Chả bù cho tôi, đã vụng về, lại còn chậm chạp. Thế mà chúng tôi vẫn thân nhau từ hồi phổ thông.
Tôi thì chả nói về nó như người ta, chỉ thấy Hiên thay người yêu và đổi chỗ làm việc như thay đổi mốt áo quần. Đạt là thằng thứ năm sau khi nó tốt nghiệp, đi làm. Còn chỗ hiện giờ nó làm, lương tháng một triệu có lẻ, là chỗ thứ tư nó lựa chọn.
Có lần Hiên bảo: “Ngôi nhà tình yêu của mày xây theo lối truyền thống nên rất tẻ, có khi còn khổ. Còn tao, tao xây phá cách bằng việc không lắp cửa, rồi chia ra nhiều ngăn, nhiều phòng, nhiều tầng. Dễ ra, dễ vào. Vả, muốn ở phòng nào, tầng nào cũng được”.
Còn bây giờ, dường như đã mỏi mệt trong những căn nhà như thế, Hiên quyết định dừng lại ở Đạt. Nhà mặt phố, bố làm to. Không những thế ông bố còn xây cất cho hẳn một căn nhà to ở đường phố chính. Cưới xong, hai đứa về đấy ở. Tôi thấy mừng cho nó, nghĩ: Chắc nó sẽ hạnh phúc. Đôi khi ganh, lên lại nghĩ: Hạnh phúc không tỉ lệ thuận với ngôi nhà mà người ta đang ở.
5. Đã thấy hơi hướng của Tết ở trong nhà, trên đường phố và trong bầu không khí ở cơ quan.
Ông Thủ loan tin: “Sáng kiến khoa học của con Hà được thưởng năm triệu, bắt nó khao”. Tôi mừng quýnh lên, năm triệu cũng giải quyết được một số vấn đề. Ít ra cũng là thêm vào chỗ dùng để lo việc làm cho Hải.
Đợi giám đốc hết khách, tôi lên phòng giám đốc, định bụng hỏi lại cho chắc chắn. Giám đốc hồ hởi: “Hà hả? vào đây, sáng kiến của cháu hay, ngồi xuống, rét hả, ngồi gần đây. Sao? Yêu chưa, bao nhiêu rồi nhỉ, à hăm nhăm, ừ hữ, nào khoá hộ cái cửa, lạnh quá”.
Bắt đầu thấy lo lo, tôi hỏi vội: “Nghe bảo cái sáng kiến của cháu được xét thưởng hả chú?”. “Ừ! thưởng thưởng, đưa tay đây nào, hả, cho ấm, yên nào”.
Hoảng hồn, tôi rút tay ra khỏi bàn tay nẫn thịt, nhớp nháp của giám đốc, ù té một mạch về phòng. Vẫn kịp nghĩ: Đúng như lời bà Hoà. Ghê thật. Về đến phòng, thấy bà Hoà ngồi xăm xoi gương mặt, lại nghĩ: không khéo ngày xưa, ông ta cũng đã từng cầm tay bà Hoà như đã cầm tay tôi lúc nãy. Và, bà ấy có rút tay ra như mình không nhỉ. Xét cho cùng để yên hay rút tay ra cũng chỉ cách nhau một cái tặc lưỡi. Ranh giới thật mong manh.
Buổi chiều, ông Thủ mặt nhăn nhó, bảo: “Hỏng rồi, cái sáng kiến của con Hà giám đốc xem lại, bảo chưa được, để xem xét năm sau”.
Tôi đã lờ mờ, sao không đoán trước kết cục này. Trước nay mình chưa hề lên đó một mình, sao hôm nay phởn thế. Vì Hải ư?
6. Hai mươi tết, trời nắng hoe lên một chút rồi lại mưa lâm râm. Sáng, Hải đến, bảo: “Chủ nhật, về quê, gặp gỡ anh em chú bác cho quen”.
Tôi lưỡng lự. Lần trước về quê Hải tôi đã bị một cú ê mặt. Đôi khi nhớ lại vẫn buồn. Bữa ấy Hải về giỗ cố, bố mẹ Hải bảo Hải lên nhà Từ đường thắp hương. Tôi hăng hái chạy theo bảo: “Cho em đi với”. Mẹ Hải nhổ văng bãi nước trầu khỏi miệng, gọi giật: “Này cháu, ở lại, đàn bà con gái không lên đấy được đâu”...
 Tôi bảo với Hải là tôi thấy ngại vì chuyện ấy. Hải bảo: “Ồi, chắc các cụ quên rồi. Mà cũng phải về chứ sao. Sang năm cưới rồi”. Mẹ tôi bảo: “Cứ đi đi, nhà cửa, tết nhất đã có thằng Phương, con Loan”. Thế là tôi bị thuyết phục.
 Buổi trưa ở nhà Hải, tôi dành phần rửa bát, lơ ngơ thế nào lại làm vỡ chiếc đĩa cổ. Thoáng thấy bà mẹ chồng lắc đầu, tôi đã buồn, và tự trách mình: “Lần sau thì cố mà làm cho cẩn thận”.
Trên đường về, Hải có vẻ ít nói. Chả bù cho lúc đi. Tôi hỏi: “Sao anh bảo về giới thiệu họ hàng mà chỉ thấy mỗi ông chú”. Hải trả lời: “Vì sợ muộn, trời tối, lạnh!” Tôi nói vẻ cam chịu, biết lỗi: “Hôm nay em vụng quá!” Hải bảo: “Ừ, mà cũng chẳng sao”. Tôi hỏi: “Mồng hai bố mẹ anh xuống chứ”. Hải ậm ừ: “Khoảng đấy!”
Nhớ lúc ra đi, mẹ Hải bảo: “Hải ơi, quàng chặt cái khăn vào cổ, gió lạnh, lại cảm đấy. Tết nhất đến nơi, nhớ về ngay. Khổ thân con tôi”. Lúc ấy tôi đã buồn buồn.
Hải đưa tôi xuống thị xã rồi về ngay, không như những lần trước. Chỉ bảo: “Anh về, ra tết lại xuống”.
7. Buồn được mấy hôm rồi lại phải vui với đám cưới Hiên. Trông nó thật vui, nó bảo: “Mồng hai hả, để tao sang giúp nấu nướng”. Tôi im lặng kết hoa cho nó, nghĩ: Mồng hai mày về nhà chồng rồi, giúp được gì.
Đám cưới của Hiên thật hoàn hảo, nếu như tôi không nhìn thấy có một đám mây màu tối trong mắt Hiên khi nó nhìn thấy thằng Tuấn. Mối tình đầu đời và cũng là mối tình lâu nhất của nó. Thôi, như thế cũng là được rồi. Miễn là bây giờ nó yêu Đạt.
Đêm giao thừa tôi ngồi như đá. Mấy thằng bạn hồi phổ thông, làm ăn tận Hà nội, Sài gòn về tết, ghé chơi, cả dò hỏi nữa. Dăm ba lời hứa hẹn mênh mang. Thấy tôi như kem, chuồn hết. Còn lại một mình, tôi nghĩ: Giờ này không biết Hải đang làm gì. Lấy sổ và bút ra định “cảm tác phút giao mùa”, lại chỉ ghi được hai chữ: “Mong manh”.
8. Sáng mồng hai, bạn bè tới, trách móc: “Sao không thấy mặt mũi đâu, hôm nay ăn hỏi hả?”. Tôi bảo: “Chỉ là gặp gỡ hai nhà thôi”. Chúng nó gào lên: “Còn giấu hả”.
Kim Anh và Hoài Thu ở lại giúp tôi làm cơm. Mẹ tôi mừng lắm, bảo: “Bỏ đồ nguội đi, làm nóng hết”. Rồi dặn vói ra nhà ngoài: “Thằng Phương, con Loan hôm nay ở nhà tiếp khách”. Tôi chả làm được gì, ra vào xăm xoi, chăm chút rổ rau sống.
Mười giờ, tôi bắt đầu sốt ruột. Mười một giờ, Hoài Thu bảo: “Chắc hỏng xe. Cả nhà lại dài cổ ngóng ra ngõ. Mười hai giờ, tôi chạy ào về phòng, Kim Anh chạy theo: “Ông ấy bảo khoảng này, chứ có cụ thể giờ nào đâu, mày như dở hơi. Đợi thêm một tý”.
Tôi chợt nghĩ: Ừ, mình đúng là dở hơi, đấy mới là ý của Hải, biết đâu bố mẹ Hải không đồng ý thì sao. Mà, Hải thì có quyết định được gì đâu.
Tôi thở ra. Cả nhà ăn cơm trong không khí buồn không ra buồn.
 9. Mồng ba, rồi mồng bốn, tôi căng hết giác quan. Phòng bên mẹ tôi bảo: “Này ông, ông hỏi con Hà xem, chắc chúng nó có việc gì”. Cha tôi nói to: “Thì bà đi mà hỏi nó. Thời này Sở Khanh như khoai, không khéo khôn ba năm, dại một giờ”. Mẹ tôi nói giọng trách móc: “Ông thật hay, thì đã có gì đâu nào, chỉ là lời hứa hẹn của bọn trẻ. Hoặc giả, gia đình người ta không ưng con bé. Chưa gì đã rối lên, khôn với chả dại”.
Tôi đang tấm tức, chợt ráo hoảnh, nghĩ: “Ừ, có gì đâu mà đã rối lên. Mà không biết là mình đã dại giờ nào chưa nhỉ. Mà khôn cũng để làm gì. Khôn dại, dại khôn hoá ra cũng toàn là những thứ đáng buồn cả. Rồi lại cay đắng nghĩ: “Sao mà cái gì cũng mong manh”.
 10. Kiếm việc linh tinh làm cho quên đi, nhưng rồi cũng phải nghĩ: “Không biết giờ này Hải đang làm gì. Hải có buồn như mình buồn không. Suy cho cùng, đi hết cuộc đời, người nào cũng phải đeo mang một vài thứ bệnh tật gì đó, nhưng có lẽ căn bệnh nặng nhất, thống khổ nhất mà ai cũng phải đeo mang là căn bệnh buồn. Hải là bác sỹ tương lai, Hải có tự chữa được cho mình không. Hay Hải là người không mắc căn bệnh này. Chợt nhớ tới Hiên và ngôi nhà tình yêu phá cách của nó dạo nào, tôi lại nghĩ: Mình đã bao giờ được ở trong ngôi nhà tình yêu của mình chưa nhỉ. Hay mới chỉ là kẻ đứng ngoài nhìn ngắm, dò xét và đánh giá. Hay là từ bây giờ mình cũng sẽ xây những ngôi nhà tình yêu như kiểu của Hiên. Nhưng có còn kịp không tuổi trẻ và sắc đẹp.
  Mà việc gì phải ủ ê nhỉ. Đã là mồng năm rồi, ngày mai lại đi làm trở lại. Hết Tết đến nơi, sao không ra đường mà hưởng một chút tết còn sót lại. Mình có còn đợi chờ, mong ngóng ai nữa đâu.
Tôi nhìn vào gương: Một con bé còn trẻ và thật đẹp. Ngoài phố, nắng xuân bắt đầu hoe trên gương mặt mọi người. Trên kia, thời tiết chập mạch còn hào phóng ban cho một chiếc cầu vồng nữa chứ. Trông thật đẹp, nhưng cũng thật mong manh./.
 

Tết 1995

. . . . .
Loading the player...