12-11-2014 - 00:48

Tác giả Nguyễn Thanh Truyền

Tác giả Nguyễn Thanh Truyền sinh năm 1981, tại Đức Tùng, Đức Thọ, hội viên chuyên ngành Lý luận phê bình, hiện công tác tại trường HCS Hoàng Xuân Hãn – Đức Thọ - Hà Tĩnh.

Tác giả Nguyễn Thanh Truyền

 
- Sinh ngày 12 tháng 11 năm 1981, tại Đức Tùng – Đức Thọ - Hà Tĩnh.
- Nơi công tác hiện nay: THCS Hoàng Xuân Hãn – Đức Thọ - Hà Tĩnh.
- Trình độ chuyên môn: Đại học.
- Năm vào Hội địa phương: 2013; Chuyên ngành Lý luận phê bình.
- Ngày vào Đảng: 19 – 04 – 2005.
- Điện thoại: 0983834861. Email: nthanhtruyen@gmail.com
- Tác phẩm: Nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương.
- Giải thưởng: Giải Nhì cuộc thi Bình ca dao của tạp chí Thế giới trong ta năm 2005 (tác phẩm “Rất sâu và rất sắc”); Giải Ba cuộc thi Bình ca dao của tạp chí Thế giới trong ta năm 2006 (tác phẩm “Cuộc tương ngộ của hai tấm lòng biết yêu thương”).
- Tác phẩm tự chọn:
 

TRÊN HÀNH TRÌNH TRỞ VỀ TUỔI THƠ
(Đọc thơ cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Phú)

 
       Đọc Nguyễn Ngọc Phú, tôi thích những câu: “Hẫng hụt tháng ngày tăm cá/ Thót một tia tôm càng/Búng giật lùi kí ức/ Mơ cầu vồng bắc sang...”. Cái thế giới biển trời mà tác giả gợi lên bất chợt đưa ta xa rời những ưu tư, hẫng hụt, chống chênh thường thấy ở cõi đời để về với miền kí ức trong trẻo, an nhiên, thơ mộng, diệu kì. Khi đọc những bài thơ viết cho thiếu nhi của anh, tôi lại nhớ đến những hình ảnh thơ sinh động ấy. Những trải nghiệm đã chìm khuất sau sự liên tưởng rất bất ngờ. Sức nghĩ và sức cảm mới lạ mà trong trẻo này giải thích vì sao Nguyễn Ngọc Phú lại khiến ta ngạc nhiên thú vị khi đọc những bài thơ anh có được trên hành trình trở về tuổi thơ.
      Trong phần lớn những chặng đường đời, Nguyễn Ngọc Phú vẫn ngày ngày đều đặn đi về với nơi chốn sinh dưỡng ra anh: làng Thạch Kim ở vùng biển Cửa Sót. Gắn bó với làng quê suốt tuổi ấu thơ, xa cách, rồi anh lại trở về hòa mình với nhịp sống quen thuộc, tưởng như cảnh vật cũng già theo những trải nghiệm đời người. Cái khoảnh khắc “Thót một tia tôm càng/ Búng giật lùi kí ức” đã trả tâm hồn người nghệ sĩ về với bản nguyên của nó, để anh được nhìn vạn vật quanh anh bằng cái nhìn tươi mới trong sự ngạc nhiên ban đầu. Trở về tuổi thơ, trong cái nhìn thơ trẻ, Nguyễn Ngọc Phú được trở về với sự hồn nhiên, trong sáng, ngộ nghĩnh, vô tư; tạm quên những khúc biến tấu ngày thường để hát những bài ca vỡ lòng về thế giới.
      Thế giới rộng lớn mở ra từ những điều gần gũi, thân thuộc liên quan đến những đồ vật, con vật quanh ta. Tất cả bỗng trở nên mới lạ, đầy lí thú. Cây lá vườn nhà, những loài vật, đồ vật được Nguyễn Ngọc Phú tắm gội bằng cái nhìn trong trẻo, thơ ngây. Đây là những câu hỏi thường ngày của trẻ thơ ham hiểu biết: “Quả Cau có tai đâu/ Mà gọi là Cau điếc// Quả Bí không nhọn sắc/ Lại gọi là Bí đao// Mèo có phải quả đâu/ Sao gọi là Mèo mướp...” (Hỏi); “Ngọn đèn Đom Đóm/ Kì lạ quá thôi/ Trong mưa càng sáng/ Nháy mắt liên hồi// Bão to không tắt/ Nhấp nháy hàng mi/ Đom Đóm tài thật/ Hỏi thắp bằng gì?”(Ngọn đèn đom đóm). Đây là phát hiện bất ngờ khi bé trồng cây hóa ra lại là trồng... xương: “Gân lá hình xương cá/ Uốn lượn hóa Xương Rồng/ Xòe ra thành xương quạt/ Ô hay: Xương ta trồng” (Xương lá). Ta vẫn quen gọi ve sầu, nhưng trẻ thơ không thấy như thế: “...Dàn đồng ca mùa hạ/ Ve lĩnh xướng mở đầu/ Vít hoa vào thành quả/ Ve chẳng bao giờ sầu”(Ve sầu mùa hạ). Và đây là bức tranh sinh động của những khám phá không dễ có trong những điều vốn dễ thấy: “Thập thò Chuồn Lửa/ Nhóm bếp cho bà/ Chuồn Voi cõng bão/ Qua mây mỡ gà// Nhóng nhánh Chuồn Ớt/ Nhấm khói cay cay/ Chuồn Kim thì bận/ Vá may suốt ngày// Lim dim Chuồn Đá/ Ngủ gật bờ ao/ Giật mình tỉnh giấc/ Gánh cơn mưa rào.”(Chuồn chuồn). Nói rằng không dễ có bởi những câu thơ trên không chỉ cho thấy khả năng quan sát mà còn thể hiện hiểu biết sâu sắc của người viết về loài vật trong mối quan hệ khăng khít, vi diệu với tự nhiên, thời tiết. Nhưng, cái hay của thơ cho thiếu nhi là ở chỗ sâu sắc mà vẫn đầy chất trẻ thơ với sự bay bổng, lãng mạn: “Cây rơm không có lá/ Nở một giấc mơ vàng/ Cọng rơm gầy gò quá/ Nuôi chín bao mùa màng// Dáng cây rơm nghĩ ngợi/ Bao vất vả đi qua/ Cho mùi cơm gạo mới/ Thơm lan tỏa trước nhà// Ngày ủ bóng cho gà/ Đêm quây thành nệm ấm/ Cho giấc mơ của em/ Thơm mật ong đồng ruộng ...”(Cây rơm).
      Từ cảm hứng với vườn nhà, Nguyễn Ngọc Phú mở rộng tầm quan sát ra không gian đồng ruộng, đất trời. Trong cái nhìn trẻ thơ, càng mở rộng không gian, nhà thơ càng có thêm nhiều khám phá. Đồng ruộng là không gian tưởng chẳng còn gì mới mẻ ở đất nước có nền nông nghiệp lúa nước tự ngàn đời. Thế nhưng, với cái nhìn của một đứa trẻ quê đích thực, Nguyễn Ngọc Phú đánh thức ở người đọc niềm khao khát trở về thế giới tuổi thơ, làm nên sự hòa giải kì diệu giữa cảm quan người lớn và tâm hồn trẻ thơ bằng những câu thơ vừa chân thực, gần gũi, vừa sống động, vui tươi, đầy bất ngờ. Thế giới tự nhiên vốn hài hòa, hợp lí. Tuổi thơ trong sáng thích đắm chìm trong sự hài hòa tự nhiên, tinh khiết ấy để khám phá và nhận thức thế giới. Vì thế, sự có mặt của cây gạo giữa đồng quê là bởi: “... Tỏa bóng rợp cánh đồng/ Che thợ cày thợ cấy/ Giữa nắng trưa oi nồng...”(Cây gạo). Vẫn theo cái lí của tự nhiên hài hòa, đó là sự tồn tại và sinh trưởng của cỏ: “Cỏ có tên cỏ Mật/ (Có nấu kẹo được không?)/ Cỏ Gà hay thao thức/ Sợ ngủ quên ngoài đồng// Cỏ Lác thì dệt chiếu/ Cỏ May ham thêu thùa/ Cỏ Gấu làm vị thuốc/ Chẳng bao giờ bán mua// Có bao nhiêu thứ cỏ/ Vẫn là cỏ dại thôi/ Đêm nằm nghe “Nghé ọ”/ Cỏ trở mình tốt tươi” (Cỏ). “Mùa chim” là một bức tranh khoáng đạt và rộn rã, cũng thể hiện sự hài hòa vốn có của tự nhiên: Mùa chim rộn đồng ta/ Bay về theo mùa gặt/ Nhặt những gì bỏ sót/ Sau no ấm mùa màng”. Ở quãng sơ khởi của hành trình sự sống, trẻ thơ thích đắm mình vào những câu chuyện đồng thoại. Cùng với “Cào cào may áo”, bài thơ “Cua càng thổi xôi” của Nguyễn Ngọc Phú có chất đồng thoại ngộ nghĩnh đầy hấp dẫn ấy: “Cua càng đi hội/ Cõng nồi trên lưng/ Vừa đi vừa thổi/ Mùi xôi thơm lừng// Cái Tép đỏ mắt/ Cậu Ốc vặn mình/ Chú Tôm lật đật/ Bà Sam cồng kềnh// Tép chuyên nhóm lửa/ Bà Sam dựng nhà/ Tôm đi chợ cá/ Cậu Ốc pha trà// Hai tay dụi mắt/ Tép chép miệng: Xong/ Chú Tôm về chậm/ Dắt tay bà Còng// Hong xôi vừa chín/ Nhà đã dựng xong/ Trà pha thơm ngát/ Mời ông Dã Tràng// Dã Tràng móm mém/ Rụng hai chiếc răng/ Khen xôi nấu dẻo/ Nhất cô Cua càng”.
      Các sự vật hiện tượng trong không gian mênh mông và trên bầu trời cao rộng có sức hấp dẫn mãnh liệt. Trẻ thơ luôn quan sát tìm hiểu vạn vật bằng cái nhìn nguyên sơ. Trong những bài thơ của mình, Nguyễn Ngọc Phú đã nhìn thiên nhiên bằng cái nhìn mới mẻ để khơi mở trí tưởng tượng và sự tự do. Trăng đã và vẫn được trẻ thơ hình dung như quả bóng, nhưng ở đây là một cái nhìn rất khác: “Mỗi tháng một rằm/ Trăng tròn má bé/ (Gọi Trăng bằng ông/ Bé thường thích thế!)// Đầu tháng giống lá/ Cuối tháng trổ mầm/  Đêm rằm tròn quả/ Xin mời ông Trăng// Trung thu phá cỗ/ Nhìn lên vòm trời/ Quả Trăng nhả hạt/ Thành ngàn Sao rơi”(Quả trăng). Trăng thì thế, còn những vì sao lại có những cái tên càng khám phá càng thấy thật lạ: “Sao gọi là Sao Chổi/ Quét gì ở trên trời/ (Hay quét bao cơn bão/ Đang rập rình ngoài khơi)// Sao gọi là Sao Hỏa/ Chắc là nóng quá thôi/ (Sao Hỏa nhưng lạnh lắm/ Trên đó chẳng có người)// Sao Thần Nông cày ruộng/ Sao Hôm khép lại ngày/ Sao Mai thường dậy sớm/ Treo sương đầu ngọn cây”(Sao). Người lớn đầy âu lo khi nghe nói về mắt bão, trẻ con lại quan tâm, cảm nhận và hình dung theo cách thật đáng yêu: “Trời đang lặng gió/ Mây nổi tê tê/ Khớp xương bà nhức/ Hình như bão về// Bắt đầu Kiến Lửa/ Gánh gió leo rào/ Chuồn Chuồn rối rít/ Từng đàn lượn chao// Bão đi đủng đỉnh/ Tính được từng giờ/ Mặt trăng mất ngủ/ Thâm quầng âu lo// Em tìm mắt bão/ Giấu ở nơi nào/ Mà sao cây cỏ/ Biết trước bão vào” (Mắt bão). Nét hồn nhiên, đáng yêu của tâm hồn trẻ thơ như thăng hoa trong bài thơ về nắng: “Nắng sàng qua mắt lá/ Chấp chới nở thành hoa/ Chú Chuồn Kim xâu chỉ/ Thêu nắng lên mái nhà// Hương nắng tan vào đất/ Cho trái chín ngọt lành/ Cơn mưa rào bất chợt/ Hoa nắng ngời lung linh// Trưa nay bé chực rình/ Ngắt một chùm hoa nắng...”(Hoa nắng). Bài thơ kết lại mà vị ngọt nó gợi lên còn ngân mãi trong lòng!...
      Trong hình dung của trẻ thơ, mọi vật trong tự nhiên đều hành động như con người. Những sự vật hiện tượng vốn vô tri, theo chiều liên tưởng mạnh mẽ, phong phú tất thảy đều bừng thức sức sống. Với phép nhân hóa được vận dụng rộng rãi và hiệu quả, Nguyễn Ngọc Phú khiến thế giới tự nhiên xa lạ trở nên rất gần gũi, và vì thế chuyện của tự nhiên lan tỏa đến và dừng lại ở những hình dung, vỡ lẽ về cuộc sống con người. Nhìn vào vạn vật, nảy sinh những nghi vấn, qua quan sát liên tưởng, các em sẽ biết thêm một điều gì đó mới mẻ, và sẽ tự thức nhận một ý nghĩa nào đó được bật lên tức thời. Trong thơ Nguyễn Ngọc Phú, các sự vật hiện tượng cũng khoác chiếc áo của riêng mình trong từng thời điểm, cũng mắc võng, cũng đu đưa nhịp ru,... Trong cái nhìn trẻ thơ, cơn mưa có cả bộ sưu tập trang phục: “Cơn mưa mặc áo tơi/ Bằng đám mây màu xám/ Gặp ngày nắng trải phơi/ Áo tơi thành lụa trắng// Mưa bóng mây áo ngắn/ Cơn mưa bão áo dày/ Mưa ngâu thì áo mỏng/ Áo dài mưa bụi bay// Áo khoác hờ qua vai/ Cơn mưa rào đỏng đảnh/ Bỗng rùng mình chợt tạnh/ Quên cả cúc không cài”(Cơn mưa mặc áo). Những sắc màu hình dáng của mưa cuối cùng đọng lại trong ấn tượng bất ngờ với mưa rào. Cái “rùng mình” của cơn mưa rào điệu đà được nhà thơ miêu tả rất tự nhiên đem lại cho bạn đọc những phản ứng thú vị! Võng, nôi là những hình ảnh gắn với tuổi ấu thơ trong căn nhà nhỏ, các em lại hình dung về hình ảnh ấy trong vạn vật: “Cầu vồng bắc võng / Sau cơn mưa rào/ Con thuyền mắc võng/ Bồng bềnh sóng chao// Võng tre kẽo kẹt/ Võng đay xù xì/ Võng dù thin thít:/ Ngủ đi! Ngủ đi!// Bao nhiêu cánh võng/ Đều mắc hai đầu/ Lưng bà võng xuống/ Biết mắc vào đâu.”(Võng). Khi những liên tưởng dẫn dắt các em đến đúc kết “Bao nhiêu cánh võng/ Đều mắc hai đầu”, nghi vấn “Lưng bà võng xuống/ Biết mắc vào đâu” nảy sinh, thì chắc chắn chẳng ai còn đi tìm câu trả lời cho cái vế “mắc vào đâu” nữa mà sẽ lặng lẽ nhìn vào lòng mình.
      Là người con của vùng biển, những bài thơ cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Phú mang dấu ấn quê biển có những nét đẹp đặc biệt. Một thế giới đa sắc màu được miêu tả từ nhiều góc nhìn tạo thành những thước phim sống động đầy chất thơ. Đó là thế giới của những người lao động miền biển với công việc hằng ngày của họ, được nhìn bởi cái nhìn so sánh rất ấn tượng của trẻ thơ: “Giống như một chú cào cào/ Người đi cà kheo dưới nước/ Chiếc vó thùng thình vớt ruốc/ Hình như vớt cả chiều lên”(Biển). Đó cũng là thế giới lí tưởng cho bé vui chơi, đùa nghịch, thể hiện mình: “Em chạy thi với sóng/ Sóng luôn luôn dẫn đầu/ Đến bờ rồi em vượt/ Sóng mệt nhoài nằm sau”(Chạy thi với sóng); “Con thuyền như cánh diều cong/ Chơi trò “dung dăng dung dẻ”/ Bập bênh bên bờ bên bé/ Thử xem ai nhẹ hơn nào?”(Biển). Ở đó, các cô cậu học trò có thể có những hình dung thật lạ mà cũng rất có li, kiểu: “Biển là tờ giấy thấm/ Ngấm từ đêm sang ngày/ Mặt trời là cục tẩy/ Xóa tan bao màu mây.”(Biển và mặt trời). Cái nhìn trẻ thơ giúp các em phát hiện thấy thiên nhiên vĩ đại mênh mông kia còn âm thầm làm những công việc tinh vi như thanh lọc thế giới: “Mây cuộn lên từ biển/ Chở cả cơn mưa rào/ Nước mưa sao ngọt thế/ Vị mặn mòi biển đâu” (Mây). Với biển, trẻ thơ tha hồ khám phá và không ngớt ngạc nhiên trước vẻ đẹp và sự giàu có của biển cả quê nhà. Trong muôn ngàn sinh vật biển, chỉ nhắc đến cá thôi, đã thấy bao vẻ kì diệu, hấp dẫn: “Cá Chuồn có cánh đâu/ Bay là là mặt nước/ Suốt một đời chân thật/ Cá Dơi xòe hai mang// Cá Ngựa chẳng có bờm/ Ăn phù du thay cỏ/ Không biết hỏi: đâu đâu/ Vẫn gọi là cá Chó!// Chẳng rù rì mờ tỏ/ Sao gọi là cá Ong/ Không cày vỡ ruộng đồng/ Cá Bò chơi bong bóng// Cá Ve thường lặng tiếng/ Cứ mỗi độ hè sang/ Ríu rít tiếng gọi đàn/ Cá Heo đa cảm nhất/ Chọn bạn chơi thân thiết/ Sao lại gọi cá Lầm/ Mắt cá mọc ở chân/ Nhắc em đi khỏi lạc” (). Ý nghĩa sâu xa hay bài học của những liên tưởng từ cá (trong mối quan hệ giữa tên gọi và bản chất) cũng phong phú như bản thân biển cả có muôn vàn loài cá vậy! Biển, qua thơ Nguyễn Ngọc Phú, sống động và đầy chất thơ dẫn dụ trẻ thơ khám phá không chỉ bởi thế giới sinh vật biển mà còn hấp dẫn từ những sự vật vốn vô tri như con thuyền trên sóng nước “Gặp ai cũng gật đầu chào”, cây buồm “Qua bao bão tố/ Buồm vẫn căng phồng/ Gặp bờ êm ả/ Cánh buồm ngả lưng”, và mắt lưới... Cái nút thắt nhỏ bé là “mắt lưới” hiện lên lung linh rất thơ: “Gió đan qua mắt lưới/ Làm rối cả tay em/ Cành phi lao trước ngõ/ Đem gió rắc lên thềm// Chiếc vảy cá bắt đèn/ Nở thành sao lấp lánh/ Chiếc vó tung giữa trời/ Mắt lưới nhìn đăm đắm// Áo cha choàng áo lưới/ Con sóng cuộn tay mình/ Đi đêm không sợ lạc/ Mắt lưới ngời lân tinh”(Mắt lưới)! Nếu ở những trường ca về biển, những khúc biến tấu biển, Nguyễn Ngọc Phú đầy suy tư, trở trăn thì ở những bài thơ viết cho thiếu nhi (hay cho ấu thơ của chính mình?!) này, tâm hồn anh thấm đẫm chất thơ của trẻ thơ trong trẻo, đẹp vẻ đẹp hồn nhiên.
      Thơ thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Phú thể hiện cảm xúc của anh trước bức tranh cuộc sống quanh mình với tất cả những gì gần gũi với tuổi thơ. Ngoài những sáng tác có thể kể ra theo các đề tài trên, bạn đọc nhỏ tuổi còn có thể gặp trong thơ anh những cảm nhận, những cái nhìn ngộ nghĩnh, thú vị khác. Câu chuyện “Mẹ gà con vịt” không lạ lắm với những em bé quê, nhưng gặp lại trong thơ Nguyễn Ngọc Phú ta lại mỉm cười: “Mẹ gà ấp trứng/ Nở chú vịt con/ Vịt kêu: Lạc... lạc!/ Đôi mắt xoe tròn...” Không ít bạn trẻ sẽ thấy bất ngờ rồi gật gù trước phát hiện này: “Nước nổi màu bồ hóng/ Không nấu vẫn bốc hơi/ Hay mùa đông giấu lửa/ Sau màu tro da trời.”(Mùa đông). Các bài “Hạt điện”, “Bữa ăn: chiếc xe đạp”, “Quả đêm”, “Xe lửa”, “Khói”, “Tóc đèn”, “Tóc suối”, “Tuổi cây”, ... là những bài thể hiện được cái nhìn tinh nghịch, ham khám phá của trẻ thơ. Ở mỗi bài, có thể lẩy ra những phát hiện miêu tả tài hoa mà rất thơ trẻ.
      Không gian thiên nhiên và không gian sinh hoạt miền quê biển ùa vào thơ Nguyễn Ngọc Phú theo những chiều liên tưởng phong phú và mãnh liệt. Thơ thiếu nhi thường được lập tứ nhờ cảm xúc mới mẻ và liên tưởng hết sức bất ngờ, thú vị. Nguyễn Ngọc Phú không chỉ có được những cảm xúc và liên tưởng trong mỗi bài thơ, hơn thế, cảm hứng tuổi thơ bừng thức đã dắt dẫn con người thi sĩ giàu kinh nghiệm mở rộng trường liên tưởng ở phương diện đề tài, nên anh có được không chỉ là những chùm bài mà là những chuỗi bài. Nói như đại thi hào R.Tagore, thế giới tuổi thơ là nơi “lý trí lấy luật của mình làm diều đem thả”(trích “Thế giới của bé”, tập “Trăng non”), lí trí nhường cho/ chịu sự dắt dẫn của cảm xúc, của liên tưởng. Những liên tưởng mở rộng lan tỏa tự nhiên, ngẫu nhiên, hồn nhiên theo những trường nghĩa giúp Nguyễn Ngọc Phú có được rất nhanh các chuỗi bài. Liên quan đến “cây” thì có các chuỗi: cây rơm - cây buồm, lá - hoa - quả - hạt... Từ “quả” lại có: quả mùa thu - quả đêm - quả trăng... Từ “áo” thì có: áo - cơn mưa mặc áo - cào cào may áo... “Mắt” lại có: mắt bão - mắt lưới... Từ điểm xuất phát, các liên tưởng dần chuyển nghĩa cả hệ thống ngôn từ. Đó là một đặc điểm nổi bật của hình thức thơ thiếu nhi Nguyễn Ngọc Phú. Dung lượng ngắn gọn, liên tưởng bất ngờ, vận dụng nhuần nhuyễn các thể thơ, các thủ pháp so sánh, nhân hóa, tính đối thoại,... Nguyễn Ngọc Phú thực sự đã làm nên một hành trình về lại tuổi thơ của chính mình, khám phá và sẻ chia thế giới diệu kì của tâm hồn trẻ thơ, để thêm một lần được sống đời sống mơ mộng, hồn nhiên, thánh thiện.
      Nguyễn Ngọc Phú rất chăm chút cho những bài thơ thiếu nhi, chăm chút cho sự ra đời của tập “Mùa chim”. Thành công của tập thơ này chắc chắn sẽ mở ra những hướng sáng tạo mới trong anh. Người đọc chờ đợi và mong muốn đề tài được mở rộng hơn, thế giới trẻ thơ được nhìn bởi nhiều chiều hơn, có lung linh mà cũng có suy tư, có không gian ngoại cảnh để vui chơi như đã miêu tả mà cũng có không gian tâm lí với những nghĩ ngợi từ góc nhìn hồn nhiên nhưng không kém sâu sắc của con trẻ. Một vài chi tiết thơ nếu trau chuốt hơn thì hiệu quả thẩm mĩ sẽ cao hơn. Chẳng hạn khổ thơ “Lời ru chắp cánh/ Bay vào ca dao/ Cánh diều ru gió/ Lên cao, bay cao...” cuối bài “Ru” nên đảo trật tự hai dòng sau lên trước. Hay câu thơ “Tính thuyền thường hay... xấu hổ/ Gặp ai cũng gật đầu chào”, liệu có đúng tâm lí trẻ thơ?! Bài lục bát “Tóc Suối” khá hay, nhưng cái kết sẽ có sức gợi hơn nếu trong câu “Từ con thác bạc lưng chừng/ Lượn thành tóc suối ngập ngừng... trước em” đảo chữ “tóc suối” thành “suối tóc”.   
      Trong ấn tượng của bạn đọc, đã có một Nguyễn Ngọc Phú của những trường ca giàu trải nghiệm, những vần thơ về biển nặng suy tư và một Nguyễn Ngọc Phú khá sắc sảo trong thẩm bình thơ. Với những bài thơ thiếu nhi đã viết trên hành trình trở về tuổi thơ, Nguyễn Ngọc Phú khẳng định được những nét riêng và mở ra nhiều triển vọng. Biêlinxki nói “Sách cho thiếu nhi phải là hội hè”. Những bài thơ của Nguyễn Ngọc Phú, chủ yếu tập hợp trong tập “Mùa chim” (Nxb Hội nhà văn, 2013) thực sự đã mở ra những không gian như thế. Anh đã viết những vần thơ trong trẻo, tươi mới khơi gợi trong các em một cách tự nhiên lòng yêu làng cảnh, yêu trời biển quê hương, yêu những điều bình dị thân thuộc mà rất diệu kì trong cuộc sống...
                                               

                                                                                      Tháng 6/ 2013

 

NHÂN VẬT MỤ CHỦ NHÀ
TRONG TRUYỆN NGẮN LÀNG CỦA KIM LÂN
(Ngữ văn 9, tập một)

 
      1. Sinh thời, Kim Lân từng phát biểu: “Khi viết, tôi chuẩn bị kỹ càng những nhân vật, những chi tiết, cốt truyện cũng như những tính cách, những hoàn cảnh, những tâm trạng... Mỗi truyện, điều tôi chú ý trước tiên là nhân vật(1). Viết truyện “Làng”, dường như tất cả tâm sự và ý tưởng của mình được Kim Lân dồn vào nhân vật ông Hai. Bạn đọc đến với vẻ đẹp của truyện ngắn này thường đi theo con đường quen thuộc: khám phá vẻ đẹp của hình tượng nhân vật chính. Nhưng Kim Lân không chỉ chú ý xây dựng nhân vật ông Hai. Trong diễn biến cốt truyện, trong quá trình triển khai đề tài, thể hiện tư tưởng/ ý tưởng của mình, Kim Lân còn có chủ ý và dụng công khắc họa các nhân vật phụ bằng những chi tiết bao hàm ý tứ sâu xa. Vì thế, cùng với nhân vật chính, thành công của những nhân vật ở bình diện thứ hai, thứ ba đã giúp Kim Lân “tạo nên bức tranh đời sống hoàn chỉnh, độc đáo và sinh động trong tác phẩm(2). Trong ý đồ nghệ thuật và dưới ngòi bút Kim Lân, nhân vật mụ chủ nhà hiện lên với những nét tính cách tương đối rõ rệt và gây ấn tượng, góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề của truyện.
      2. Về nhân vật mụ chủ nhà, trước đến nay, vẫn tồn tại những đánh giá chưa thỏa đáng, thậm chí là rất phiến diện, chủ quan. Đây có thể là ý kiến tiêu biểu: “Hình ảnh mụ chủ nhà điểm xuyết vào câu chuyện là một thoáng đối lập của cái xấu, cái cũ, làm nổi bật một nét tính cách của ông Hai. Ông rất ghét những kẻ bon chen, bần tiện, tà tâm... Thì đã hẳn, người ngay bao giờ chả ghét kẻ gian!(3). Thực tế, sự xuất hiện của nhân vật mụ chủ nhà trong tác phẩm không phải là “điểm xuyết” hay “một thoáng” (và cũng chưa hẳn là cái xấu, cái cũ hay bon chen, bần tiện, tà tâm!). Mối quan hệ giữa nhân vật ông Hai và nhân vật này cũng không hoàn toàn rạch ròi theo kiểu người ngay với kẻ gian, kiểu nhân vật chính diện với nhân vật phản diện như trong truyện cổ. Nói “mụ chủ nhà” là dựa theo cách gọi tên nhân vật của nhà văn. Nói mụ chủ thay vì nói bà chủ, có lẽ nhà văn dụng ý “giữ một khoảng cách giữa người kể và nhân vật, cốt truyện để rộng đường hư cấu và bảo đảm tính khách quan của hiện thực(4), như cái cách gọi nhân vật bằng “hắn”, “y”, “thị” mà nhà văn hiện thực xuất sắc Nam Cao rất ưa dùng. Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý rằng nhân vật này chủ yếu được nhà văn miêu tả từ/theo điểm nhìn của nhân vật ông Hai – người dân tản cư đang ăn nhờ ở đậu trong nhà bà, người luôn mang trong mình nỗi bứt rứt vì phải xa làng Chợ Dầu, như con cá giãy đành đạch khi bị tách khỏi cái ao tù quen thuộc. Như vậy, nhìn nhận, đánh giá nhân vật mụ chủ nhà cần phải đồng thời quan tâm hai mối quan hệ: quan hệ giữa người kể với các nhân vật và quan hệ giữa nhân vật này với nhân vật khác.
      3. Để nhìn nhận nhân vật mụ chủ nhà từ/ trong quan hệ với nhân vật ông Hai, phải trở lại với diễn biến cốt truyện. Mặc dù Kim Lân chú trọng đến các tình huống bên trong, đến diễn biến tâm lý nhân vật và không tập trung khắc họa các biến cố, sự kiện bên ngoài nhưng không khó để nhận thấy cốt truyện với đầy đủ các thành phần. Thắt nút: ông Hai rất gắn bó với làng nhưng phải rời làng đi tản cư – nhớ và muốn về làng, lại thêm cảnh phải sống cùng mụ chủ nhà xấu tính nên “lúc nào cũng bực bội”, cáu bẳn. Phát triển: ông Hai luôn luôn hãnh diện về làng; trong lúc chỉ có niềm vui duy nhất là chui ra khỏi gian nhà tối thấp, náo nức hóng tin kháng chiến và được khoe làng, thì ông bất ngờ nghe tin làng Chợ Dầu của mình theo giặc. Cao trào: suốt mấy ngày đau đớn, tủi nhục, nghe người ta xì xào, rồi mụ chủ nhà “bóng gió xa xôi, như khía vào thịt”,... ông lâm vào tình thế bế tắc tột độ. Mở nút: ông Hai nghe tin cải chính, lại khoe làng với mọi người – cả với mụ chủ, và tự hào về làng hơn xưa. Cốt truyện là mạch diễn biến tâm lí của ông Hai. Tác nhân thúc đẩy mạch tâm lí ấy phát triển là hình ảnh mụ chủ nhà, được tác giả đặt trong quan hệ đối sánh.
      Có thể thấy, ấn tượng về người đàn bà ấy luôn đeo đẳng trong tâm trí nhân vật ông Hai từ đầu đến cuối tác phẩm. Và, Kim Lân đã sử dụng điểm nhìn trần thuật này để xây dựng nhân vật mụ chủ nhà. Để rồi, nhân vật hiện lên khá đậm nét với đầy đủ các phương diện: lai lịch, hành động, tính cách, số phận.
      Đó là người đàn bà có lai lịch không lấy gì làm tốt đẹp: “Mụ lấy đến người chồng này là đời chồng thứ ba rồi; hai người trước, người thì người ta bỏ mụ, người thì mụ bỏ người ta”. Từ những thông tin ấy, ông Hai biết mụ chủ nhà “không phải là người đứng đắn”. Đã thế, tính nết của mụ còn “lành chanh lành chói, chỉ bắt nạt chồng”, hay “chửi con mắng cái”. Trong thâm tâm, ông Hai không ưa loại người không đứng đắn và ghét cay ghét đắng cái loại đàn bà hỗn hào với chồng. Ghét đến mức dù trong thời buổi khó khăn cũng “năm lần bảy lượt ông bảo vợ dọn nhà đi nơi khác”.
      Điều ông Hai luôn thấy khó chịu ở mụ chủ là “chưa thấy người đàn bà nào tham lam, tinh quái như mụ ta”. Cái gì của mình thì cất kỹ đi, cái gì của người thì lôi ra sử dụng. Cùng với tính tham lam là thói tò mò, tọc mạch. Không ngày nào bà Hai ở quán về mà mụ không “sấn đến vạch thúng ra xem”. Mụ ta sẵn sàng vơ vét bất cứ thứ gì mụ thích, mụ thấy tiện tay. Những dòng Kim Lân miêu tả hành động của nhân vật mụ chủ nhà là những dòng đặc biệt sinh động trong tác phẩm: “Mụ nhòm xó này một tí, nhòm xó kia một tí, rồi lục. Mụ giơ lọ tương lên ngắm rồi đặt xuống, mụ mở thạp gạo ra xem, lại đậy vào, mụ lục bồ moi chiếc áo ra ướm thử vào người, rồi ném trả. Hình như trong ý mụ, mụ nghĩ: chúng mày ở nhà tao, thì những thứ của chúng mày cũng như của tao. ...Không tìm thấy thì mụ nói móc, nói máy như chính mụ bị người ta hà hiếp. Đến cả cái ăn, cái uống mụ cũng dây phần vào... Trong nhà động có thức gì mụ đã biết rồi”. Không chỉ hay “nhòm”, mụ chủ còn giỏi đánh hơi, và cái miệng mỏng lèo lèo của mụ chưa xin xong thì tay mụ đã kịp vơ lấy rồi. Mụ còn lợi dụng, kiếm cớ bòn rút của người khác bằng cách lâu lâu lại vay tiền tiêu vặt mà cố tình quên không trả. Khi người ta đòi thì mụ tìm cách đánh lảng nhằm thoái thác, “chúa thần là gian”.
      Không chỉ tham và gian, mụ chủ nhà còn là nỗi ám ảnh của gia đình ông Hai bởi hay xỉa xói, và tàn nhẫn. Tủi hổ và đau đớn vì cái tin làng Chợ Dầu theo giặc, suốt ba bốn hôm ông Hai không dám ra khỏi nhà. Lúc nào ông cũng chột dạ, nơm nớp lo sợ người ta nói về cái tin vô cùng nhục nhã kia: “Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam-nhông… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít”. Nhưng những tiếng kia, với ông Hai, chưa đáng sợ bằng mụ chủ. Từ khi nghe cái tin làng theo Tây, ông Hai đã “thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà”. Đêm trằn trọc không sao ngủ được, ông Hai như gặp thêm một cú sốc tinh thần nữa, ông “lặng hẳn đi, chân tay nhủn ra” khi “Có tiếng nói léo xéo ở gian trên. Tiếng mụ chủ… Mụ nói cái gì vậy? Mụ nói cái gì mà lào xào thế?” và “Trống ngực ông lão đập thình thịch. Ông lão nín thở, lắng tai nghe ra bên ngoài…”, “không nhúc nhích”. Vì cái tính hay xỉa xói của mụ, ông Hai căng thẳng cực độ.
      Cái tin đồn lan ra, khi mọi người đều biết, mụ chủ chẳng những không hỏi han, động viên, chia sẻ với những người làng Chợ Dầu vốn vô can mà còn có những hành động khó chịu nhằm đánh tiếng: “Từ ngày xảy ra chuyện ấy, hình như mụ ta lấy điều làm cho vợ chồng ông khổ ngấm khổ ngầm là mụ thích. Sáng chiều bốn buổi đi làm đồng về, mụ kéo lê cái nạo cỏ quèn quẹt dưới đất, qua cửa, mụ nhòm vào nói những câu bóng gió xa xôi, như khía vào thịt ông lão... Mỗi lần mụ nói, ông lão chỉ cười gượng làm như không biết chuyện gì. Ông thì muốn lặng đi như thế, nhưng mụ chủ nhà có để cho ông yên đâu”. Đánh động gần xa, rồi theo kiểu vơ đũa cả nắm, mụ ngọt nhạt bóng gió đuổi khéo gia đình ông lão: “Đành nhẽ là ông bà kiếm chỗ khác vậy...”. Thiếu cảm thông chẳng phải vì mụ chủ vốn vô tâm mà thực sự mụ rất tàn nhẫn. Mụ không thực hiện “chính sách Cụ Hồ” nhân đạo. Nói xong cái ý định đuổi gia đình ông lão, mụ chẳng thèm để ý đến bà Hai đang “rân rấn nước mắt”, rồi đứa con gái lớn của ông bà cũng “nước mắt ròng ròng”, chẳng thèm để ý đến cảnh cùng đường của cả một gia đình. Lời nói, thái độ lạnh lùng của mụ chủ góp phần đẩy ông Hai vào tâm trạng hoàn toàn bế tắc. Cái im lặng bao trùm suốt mấy ngày, nay lại thêm nặng nề, u ám: “Ông Hai ngồi lặng trên một góc giường, bao nhiêu ý nghĩ đen tối, ghê rợn, nối tiếp bời bời trong đầu óc”. Ông phải bật lên cái lựa chọn dứt khoát mà tức tưởi, nghẹn ngào: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Sự căng thẳng đã đến mức đau đớn!
      Nhưng, bên cạnh cái “tham” cái “gian”, hay xoi mói, mụ chủ nhà còn có nét tính cách mà ông Hai không ngờ tới. Khi được tin cải chính, ông Hai vui mừng khôn xiết, “cứ múa tay lên mà khoe cái tin ấy với mọi người”. Dù vậy, trong thâm tâm, ông nghĩ người đàn bà vẫn “lấy điều làm cho vợ chồng ông khổ ngấm khổ ngầm” sẽ sa sầm nét mặt, sẽ lại xỉa xói. Nhưng, sự việc lại diễn ra theo hướng khác. Mụ chủ không hề “nói tức nói xóc” mà “trái lại, mụ lại tỏ vẻ rất vui sướng. Mụ giương tròn cả hai mắt lên mà reo: - A, thế chứ! Thế mà tớ cứ tưởng dưới nhà đi Việt gian thật, tớ ghét ghê ấy… Thôi, bây giờ thì ông bà lại cứ ở tự nhiên chả ai bảo sao. Ăn hết nhiều chứ ở hết là bao nhiêu. Và rồi, lời động viên chia sẻ tưởng không thể có trong con người ấy đã bật ra, rất tự nhiên “Mụ cười khì khì: - Này, rồi cũng phải nuôi lấy con lợn… mà ăn mừng đấy!”. Mụ chủ nhà đã hòa chung niềm vui với gia đình ông lão, với người làng Chợ Dầu, hòa chung niềm vui với những người dân kháng chiến vừa rửa được tiếng oan là Việt gian. Cái cử chỉ “giương tròn cả hai mắt lên mà reo”, lời bộc bạch rất chân thành “tớ ghét ghê ấy”, rồi sự vô tư khoáng đạt “Ăn hết nhiều chứ ở hết là bao nhiêu” và cái cười “khì khì” rất xuề xòa, cởi mở dường như đã xí xóa tất cả những ấn tượng không tốt về người đàn bà này. Thì ra, “Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất”(Nam Cao)(5). Sự thay đổi thái độ của nhân vật mụ chủ nhà làm hiện rõ nét đáng quý còn ẩn giấu: yêu nước và căm thù lũ cướp nước, bán nước.
      Như vậy, mụ chủ nhà là hình tượng nhân vật được khắc họa khá đầy đặn. Người phụ nữ nông dân này có cuộc đời lận đận, nhiều bất hạnh nên những thói xấu cố hữu đã bộc lộ đến mức cực đoan. Ở góc độ khác, những điều đó lại thể hiện sự bộc trực đậm sắc thái của người nhà quê. Sự thay đổi thái độ của mụ chủ ở cuối truyện cho thấy sự chuyển biến mang dấu ấn của hoàn cảnh lớn, của thời đại. Đó cũng là một hình ảnh điển hình cho người nông dân của cuộc kháng chiến toàn dân. Cái cách ứng xử vì ghét Việt gian mà ghét lây cả những người gốc gác làng Việt gian, muốn “đuổi như đuổi hủi” vừa thể hiện rất rõ tâm lý người nông dân “Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng” vừa thể hiện điểm mới mẻ về nhận thức cách mạng trong con người họ. Khi toàn bộ những nét tính cách của nhân vật mụ chủ nhà bộc lộ khá trọn vẹn, đặc biệt là qua chi tiết mụ chủ nghe tin cải chính, những ấn tượng của người đọc về nhân vật này đã có từ đầu truyện đã thay đổi. Khi mụ chủ nhà vui với niềm vui của người làng Chợ Dầu, vui niềm vui của người dân kháng chiến, dường như trong cảm nhận của chúng ta chỉ còn lại ấn tượng về vẻ đẹp của một tâm hồn mộc mạc, chân chất – một cách thể hiện tình yêu nước cụ thể, hồn nhiên và không kém phần độc đáo!
      4. Khắc họa thành công nhân vật mụ chủ nhà, như đã nói, giúp Kim Lân hiện thực hóa ý tưởng của mình trong trang viết, tạo nên “bức tranh đời sống hoàn chỉnh, độc đáo và sinh động”. Tìm hiểu nhân vật này trong mối quan hệ với nhân vật ông Hai, chúng ta nhìn thấy một tính cách, một hình tượng có giá trị tương đối độc lập trong thế giới nghệ thuật của “Làng”. Qua đó, chúng ta cũng đồng thời thấy được vai trò của mụ chủ trong việc thúc đẩy diễn biến tâm lý của nhân vật chính. Nói như thế cũng có nghĩa nhân vật này có vai trò đặc biệt quan trọng trong diễn biến cốt truyện, trong quá trình triển khai đề tài. Không có sức ép tâm lý tạo ra từ phía nhân vật này thì tình yêu làng, yêu nước và tinh thần kháng chiến của nhân vật ông Hai chắc chắn đã không bộc lộ hết các cung bậc rất cụ thể, sâu sắc như chúng ta đã thấy. Dù gần hay xa, dù có tên hay không tên, dù được tác giả hóa thân vào để miêu tả hay sử dụng thủ pháp gián cách, các nhân vật ông Hai, bà Hai, bác Thứ, mụ chủ nhà,... đều hiện lên với dáng nét của những người nông dân thời đại mới – những năm đầu kháng chiến chống Pháp: yêu, gắn bó máu thịt với làng quê và có những chuyển biến mới mẻ, sâu sắc về tinh thần cách mạng.
      Viết truyện ngắn, để hiện thực hóa ý tưởng, các nhà văn vẫn thường “đặt những con người (nhân vật) vào tình huống”, nghĩa là “cho châu tuần lại những con người vốn xa cách nhau, cho họ tham gia vào chủ đề, rồi “từ sự tham gia đó và những quan hệ giữa họ với nhau, sẽ xảy ra tính cách của họ”(Nguyễn Thành Long)(6). Làm được điều đó một cách tự nhiên, không để lộ những dấu vết thuộc về kỹ thuật, Kim Lân – như cái tên khai sinh của ông - đích thị là một Văn Tài!
                                                                                 

                                                                                                Tháng 6/ 2014
                                                                                                        N.T.T
. . . . .
Loading the player...