Tác giả: Nguyễn Thị Hương Liên
- Sinh ngày: 17/ 12/1959
- Quê quán: Kỳ Văn, Kỳ Anh, Hà Tĩnh.
- Chỗ ở hiện nay: Phường Sông Trí, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh.
- Năm vào Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Tĩnh: 2014
- Trình độ chuyên môn: Đại học
- Điện thoại: 01687 786 667; Email: dongvanbinh@gmail.com
* Tác phẩm chính đã được xuất bản:
Một số truyện ngắn in ở báo Trung ương và địa phương
* Giải thưởng văn học, nghệ thuật, báo chí:
Giải C cuộc thi truyện ký Tạp chí Hồng Lĩnh năm 2014, truyện ngắn : “Của hồi môn”
* Tác phẩm tự chọn:
1-“ Chín bỏ làm mười” ( truyện ngắn)
2- “Của hồi môn” ( truyện ngắn)
Chín bỏ làm mười
Năm học sắp kết thúc. Bỗng nhiên, một luồng thông tin làm cả trường nóng lên hơn cả cái nắng đầu hè. Có người làm đơn tố cáo Ban giám hiệu nhà trường. Nghe nói trong đơn thư họ viết nhiều chuyện lắm. Nghe nói chữ viết tròn tròn, bằng mực bút bi màu xanh. Nghe nói họ gửi lên tận tỉnh, tận sở Giáo dục-đào tạo. nghe nói lãnh đạo Sở bảo cần phải tìm cho ra xem ai là kẻ tố cáo... Nghe nói...
Từng nhóm người trao đổi thầm thì, vẻ bí mật. Ai cũng chờ đợi xem cụ thể sự việc nó như thế nào. Mãi vẫn chẳng thấy cấp trên nào về giải quyết, chỉ thấy Ban giám hiệu nhà trường triệu tập một cuộc họp hội đồng. Bằng vẻ mặt giận dữ, hiệu trưởng thông báo các nội dung trong đơn thư:
Thứ nhất: trong kỳ thi tốt nghiệp cho học sinh lớp chín năm ngoái, hiệu phó nhà trường đã dùng tiền hối lộ cho giám thị dưới hình thức tiền bồi dưỡng, mỗi phong bì năm mươi ngàn đồng đưa tận tay cho từng người trong phiên họp đầu tiên của hội đồng coi thi. Nhận tiền của phụ huynh chạy thi cho con cái, sau đó công khai tổ chức làm bài cho học sinh. Thứ hai: hiệu phó nhà trường quyền hành, chỉ chơi với người giàu, coi khinh giáo viên nghèo, chia bè cánh làm mất đoàn kết nội bộ. Thứ ba: Ban giám hiệu nhà trường lập quỹ đen từ tiền học thêm . Cuối cùng hiệu trưởng kết luận: Đây là sự vu khống trắng trợn để bôi nhọ danh dự của lãnh đạo trường. Ví dụ như việc đưa phong bì cho giám thị trong kỳ thi năm ngoái chẳng hạn. Đó là chuyện thường tình, là sự bồi dưỡng thêm cho các giáo viên coi thi, tại sao lại coi đó là hối lộ. Hơn nữa, năm nào chúng ta chẳng làm động tác đó, không có như thế thì làm sao có tỷ lệ tốt nghiệp 100% và tỷ lệ học sinh vào trung học phổ thông công lập dẫn đầu toàn huyện được. Mục đích cuối cùng của việc đưa phong bì cũng chỉ vì phong trào thi đua của nhà trường, vì sự tồn tại và phát triển của nhà trường- một trung tâm chất lượng cao của huyện, của tỉnh. Như vậy, ai chống lại việc làm ấy, là kẻ rắp tâm phá hoại nhà trường, phá hoại phong trào thi đua của ngành giáo dục. Qua sự việc xẩy ra, tôi khẳng ddinnhj chắc chắn là giáo viên trong trường viết đơn tố cáo. Đó là những kẻ xấu xa vô đạo đức, cần phải tìm cho ra kẻ ấy để đẩy đi trường khác. Ở một tập thể đẹp như thế này không thể chứa chấp những người như thế được. Giận dữ hơn cả hiệu trưởng, chủ tịch công đoàn trường nói sa sả: người viết đơn tố cáo là người thiếu văn hóa, mang những suy nghĩ bệnh hoạn. Đó là những chiếc lá già, lá sâu sắp rụng, cần để cho nó rụng hẳn. Nhiệm vụ của tập thể chúng ta là phải giáo dục họ để họ thấy được sự xấu xa của mình trong việc tố cáo cấp trên. Tập thể này không có người xấu như thế!
Cả phòng họp ắng lặng, không ai nói một lời nào, nét mặt ai nấy căng thẳng.
Tôi bỗng hiểu thêm được nhiều điều sau cuộc họp. Hóa ra hàng năm, nhà trường vẫn lo chất lượng bằng cách đó. Hèn gì có những đứa học trò ngổ ngáo, không chịu học hành, suốt ngày la cà hết quán bi –a đến quán điện tử , thậm chí sách vở không thèm sắm, vậy mà thi tốt nghiệp vẫn xếp loại giỏi. Hèn gì Ban giám hiệu nhà trường phân công giảng dạy như thế. Hèn gì năm nào tôi cũng mong chờ được dạy đúng với khả năng của mình nhưng rồi cuối cùng tất cả chỉ là mơ ước. Cô bạn tôi nói: “Cứ thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà đi như mày còn lâu mới được dạy những lớp tử tế. Năng lực chuyên môn của mày có giỏi đến mấy cũng không dọa được ai. Thời buổi này, cần gì năng lực, tất cả họ “điều khiển từ xa được hết”. Đơn giản vậy mà cho đến lúc này tôi mới hiểu.
Một tháng sau cuộc họp nói trên, lại có đơn kiện nhà trường. Lần này thanh tra phòng về làm việc. Trưởng ban thanh tra thông báo vắn tắt nội dung đơn thư khiếu kiện. Vẫn là chuyện hiệu phó lộng hành, chia bè cánh, chuyện nhận tiền phụ huynh chạy điểm cho con, chuyện tổ chức làm bài thi, chuyện hối lộ giám thị mỗi phong bì năm mươi ngàn đồng, chuyện gây quỹ đen từ tiền học thêm. Và lần này, thêm chuyện Ban giám hiệu nhà trường không có năng lực quản lý. Cả tập thể giáo viên nhà trường lại không ai có ý kiến gì. Thanh tra cắp cặp ra về không kết luận.
Nghỉ hè. Chị bạn dạy cùng trường với tôi đến chơi. Vừa ngồi xuống ghế, chị đã nói giọng uất ức:
- Ban giám hiệu nhà trường nghi mày làm đơn kiện đấy. Đã có danh sách gửi lên Phòng giáo dục để đưa mày đi trường khác.
- Thật vậy sao?- tôi ngạc nhiên- sao chị biết?
- Sao tao lại không biết. Lần thứ nhất nó nghi tao. Tao đến gặp cả hiệu trưởng, hiệu phó và đòi dậm cho cả hai đứa. Tao còn lạ gì cách chúng nó gắp lửa bỏ tay người này nữa. Lần trước, cách đây khoảng dăm năm, khi tao còn ở trường khác, chúng nó cũng nghi tao làm đơn kiện để rồi sau đó đổi tao về đây.
- Thế họ căn cứ vào đâu để nghi ngờ?
- Không cần căn cứ. Họ là cấp trên. Họ muốn cho ai sống, ai chết mà chẳng được. Như tao và mày, tính tình khảng khái, nói gì thì nói thẳng thừng, đó cũng là cái cớ để họ ghét và rồi gán tội cho mình, tống cổ đi nơi khác cho khuất mắt. Nhiều lúc tao cứ buồn ngấm buồn ngầm. Thời buổi sao nhiễu nhương đến thế , phút chốc trắng bỗng hóa thành đen. . Rõ ràng mình là người lương thiện. ngay thẳng, bỗng nhiên trở thành người xấu nhanh đến nỗi chính mình cũng bất ngờ. Buồn hơn nữa là khi mình gặp lãnh đạo để trình bày sự việc. Nhìn vẻ mặt lạnh lùng của họ, tao có cảm giác như nói chuyện với những kẻ vô hồn vô cảm. họ không nghe mình cũng là có nguyên cớ. Như chuyện nghi ngờ tao cách đây dăm năm chẳng hạn. Trường tao lúc ấy đang cần một hiệu phó lo việc chuyên môn. Nếu cứ cho bỏ phiếu dân chủ một cách đằng sằng thì con bé nhiều năm đạt danh hiệu giáo viên giỏi tỉnh sẽ thắng. Nó là đứa có năng lực chuyên môn tốt, say mê công việc, tính tình thẳng thắn, không ưa luồn cúi nịnh nọt. Nhiều giáo viên trong trường tín nhiệm nó. Nó mà lên ghế quản lý chắc chắn tình hình nhà trường sẽ có nhiều thay đổi sáng sủa, chất lượng chuyên môn sẽ được coi trọng đúng mức, sẽ không còn cảnh bê tha nhếch nhác, thằng mù chỉ huy thằng sáng như hiện tại. Thế nhưng, cấp trên lại cũng muốn cho cô vợ “an-nam-mit” của mình lên ghế ấy. Đùng một cái, con bé giỏi tỉnh nhận được công lệnh chuyển trường, tăng cường giáo viên giỏi cho một trường ở vùng khỉ ho cò gáy, cách nhà vài chục cây số. Thế là hết. Nó không còn môi trường để rèn luyện, thể hiện mình và cấp trên cũng loại được một đối thủ nặng ký đáng gờm. Vợ của cấp trên lên hiệu phó. Ngày có quyết định hiệu phó mới là ngày ảm đạm nhất của trường. Ai cũng buồn nhưng không dám nói ra. Khoảng vài tháng sau, lại cũng đùng một cái, cấp trên thông báo: Có đơn kiện hiệu trưởng nhà trường về vấn đề tài chính chi tiêu không rõ ràng, có dấu hiệu gian lận. Đơn kiện ký tên tao. Nhận được tin ấy tao ngạc nhiên đến mức không thể tin đó là sự thật. Một cảm giác uất nghẹn đau đớn vì bị xúc phạm dâng lên tận cổ. Tại sao có người dám lấy tên tao đặt bên dưới lá đơn của chúng để làm gì? Tại sao có đứa dám lấy danh dự của tao để làm bình phong cho những mưu đồ đen tối? Tao nổi khùng, quyết tìm cho ra sự thật. Con bé văn thư kín đáo mách với tao: - Mấy tuần trước, em thấy chị kế toán và cô hiệu phó kiểm tra sổ sách thu chi. Nếu kiểm tra tài chính sao lại không thành lập ban bệ làm cho đàng hoàng mà lại chỉ có hai người làm vào ban đêm có vẻ vụng trộm như thế? Nó còn dặn thêm: Kế toán trường ta có chồng làm lãnh đạo huyện lại thân với hiệu phó như chị em ruột. Họ muốn gì được nấy, chị nhớ cẩn thận. Với thông tin quý giá đó, tao lên gặp lãnh đạo Phòng giáo dục. Tao nói : “Tôi không làm việc đó, còn ai kiện, kiện để làm gì, chắc anh biết rõ hơn tôi. Đề nghị các anh xem xét cẩn thận kẻo lại đổ tiếng xấu cho người ngay”. Nói xong, nhìn mặt trưởng phòng tao cảm giác như những lời nói của mình rơi vào chỗ trống. Hình như trưởng phòng chưa học nói bao giờ, cứ ậm à ậm ừ mãi. Khoảng mươi ngày sau, tay hiệu trưởng bị chuyển trường. hiệu phó “an-nam-mít” lên hiệu trưởng. Còn tao thì chuyển về đây với tiếng xấu khó lòng gột rửa!
- Còn chuyện đang xẩy ra ở trường ta thì sao? – Tôi hỏi
- Lại một vụ lật đổ tương tự
- Và họ cứ nhuộm tiếng xấu cho người tốt sao?
- Ừ! Dẹp các vụ tố cáo, đổ tiếng xấu cho giáo viên và bênh vực, bảo vệ kẻ sai phạm là việc làm không hiếm ở Phòng giáo dục này. Mày xem, vừa qua thanh tra về trường chẳng qua là để thông báo sự việc, ngầm đe dọa giáo viên chứ họ có kết luận gì đâu. Thanh tra kiểu gì mà chẳng điều tra, xem xét, về trường triệu tập mọi người tổ chức họp, thông báo sự việc rồi hỏi những việc ấy có hay không! Có trời lúc ấy cũng không dám nói là có. Và không ai dám nói có tức là mọi việc trong đơn thư đều vu khống. Như thế, khác nào họ bật đèn xanh cho hiệu trưởng chà đạp giáo viên một cách công khai. Rồi mày sẽ được lãnh đủ!
Chị bạn ra về. Tôi một mình nghĩ miên man, không tin những điều tồi
tệ sẽ xẩy ra.
Những ngày hè trôi qua chóng vánh. Một năm học mới lại bắt đầu.
Tôi ngạc nhiên khi thời khóa biểu năm học của tôi phân toàn môn phụ - những môn mà tôi không được đào tạo ở trường sư phạm. Tôi tìm gặp hiệu trưởng. Trong căn phòng tối mờ mờ, các cánh cửa đều đóng kín, hiệu trưởng đang ngồi nghe điện thoại vẻ mặt tươi rói. Thấy tôi vào, ông ta đặt điện thoại xuống, lộ ngay sự khó chịu, quên cả mời tôi ngồi xuống ghế. Thấy bất tiện, vẫn đứng, tôi hỏi:
- Có phải tôi sắp đổi đi trường khác?
- Có thể.
- Vì sao vậy?
Hiệu trưởng bỗng đứng dậy chỉ tay vào mặt tôi:
- Cô có quyền gì mà chất vấn hiệu trưởng? Cô ra khỏi phòng tôi ngay!
Tôi bình tĩnh:
- Anh quên nội quy dân chủ sao? Giáo viên có quyền chất vấn hiệu trưởng về những điều mình thấy chưa hợp lý trong việc phân công công tác. Nhưng ở đây tôi không chất vấn. Tôi chỉ muốn nghe lý do vì sao anh lại phân công giảng dạy cho tôi như thế? Anh từng khẳng định tôi dạy tốt hơn người khác và thực tế đã chứng minh điều đó cơ mà?
Không trả lời câu hỏi của tôi, vị hiệu trưởng đưa ra một tờ giấy nói như đọc:
- Trong cuộc họp hội đồng ngày 29/05, công đoàn nhà trường tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm tư cách đoàn viên công đoàn. Có 38/45 người đã bỏ phiếu đống ý xếp loại cô không đạt yêu cầu. Nhà trường này không có những giáo viên xếp loại yếu kém về tư cách như thế. Còn tôi, tôi chấp hành ý kiến của tập thể. Tôi không có gì để nói với cô nữa. Cô ra khỏi phòng tôi ngay!
Tôi kiên nhẫn một cách lỳ lợm:
- Công đoàn nhà trường nhân danh gì để bỏ phiếu tín nhiệm tư cách đoàn viên công đoàn một khi không có chỉ thị cấp trên? Ban giám hiệu đã vi phạm quy trình, nguyên tắc của việc bỏ phiếu kín. Phiếu bỏ từ ngày 29/05 mà đến 29/07 mới họp liên tịch để mở hòm phiếu. Trong thời gian hai tháng ấy , hòm phiếu để ở đâu? Anh có dám đảm bảo với tôi rằng trong hai tháng ấy, hòm phiếu hoàn toàn được nguyên vẹn, an toàn? Để mọi việc rõ ràng, tôi đề nghị anh cho họp tổ chuyên môn trong tháng tám.
- Không được họp tổ trong tháng tám – Hiệu trưởng nói như quát – Cô ra khỏi phòng tôi ngay!
Tôi thật sự đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Mặc dầu vậy vẫn tự dặn mình: Oan có đầu, nợ có chủ, mọi việc đều có căn nguyên của nó và hơn hết mình còn có cấp trên sáng suốt, đèn trời soi xét. Với niềm tin đó tôi bình tĩnh đạp xe lên phòng giáo dục.
Tiếp tôi là tay cán bộ tổ chức phòng, vốn là bạn học từ thời phổ thông. Vẻ mặt lạnh lùng như chưa hề quen biết, anh bạn thông báo:
- Việc đề nghị chuyển cô đi trường khác đã có danh sách từ đầu hè. Ngoài ra, còn có một lá đơn đề nghị có chữ ký của toàn bộ giáo viên trong trường. Như vậy, tập thể nhà trường đã không chấp nhận người như cô với sự nhất trí cao. Tôi cũng chỉ là người cuối cùng thực hiện ý muốn của một tập thể.
- Lý do đổi tôi đi là gì? Tại sao cả một tập thể lại phải lén lút vụng trộm xử lý tôi?
- Việc ấy cô nên gặp ông trưởng phòng xem sao?
Tôi gõ cửa trưởng phòng với vẻ tự tin. Trong những lần tôi tham gia các kỳ thi giáo viên giỏi trưởng phòng đều có mặt. Giờ dạy xuất sắc của kỳ thi giáo viên giỏi tỉnh năm ấy mà tôi đạt được khiến trưởng phòng vui mừng, chiêu đãi riêng tôi một bữa cơm trưa. Đó là những kỷ niệm đẹp tôi mang giữ trong hành trang của cuộc đời nhà giáo. Có lẽ mọi việc sẽ sáng sủa, tốt đẹp cả thôi- tôi động viên mình. Thế nhưng vừa bước chân vào, nhìn vẻ mặt trưởng phòng, tôi cụt hứng. Tôi tự mình ngồi xuống ghế, chờ ông ta buông tờ báo để giải trình vấn đề. Mới nghe tôi nói vài câu, ông ta đã cắt ngang với giọng giận dữ đầy uy quyền của bề trên như thể mọi việc đã quyết định xong xuôi:
- Cô biết đấy. Tôi có thể đưa cô đi bất cứ nơi đâu mà tôi muốn.
- Thưa thầy, nếu thầy quyết định chuyển em đi trường khác tức là thầy đã đồng ý với việc làm sai trái của nhà trường, tiếp sức cho nhà trường truy tìm, trù dập người bị nghi làm đơn tố cáo. Đề nghị thầy suy xét lại và cứu giúp danh dự của em.
- Tôi biết cô dạy giỏi , rất giỏi. Nếu cô muốn bảo vệ danh dự cho cô thì tôi sẽ ra quyết định điều động tăng cường giáo viên giỏi cho một trường vùng trong, vùng trên gì đó sắp làm trường chuẩn quốc gia. Tôi là trưởng phòng, tôi có quyền điều động...
Cứ thế, ông ta nói liên hồi về quyền lực của mình, về những điều ông ta có thể làm với bất cứ giáo viên nào khiến tôi không có cơ hội để giãi bày. Đứng dậy ra về, còn nghe ông ta tiễn tôi bằng câu nói giận dữ:
- Chỉ có kẻ vô học mới làm những trò kiện cáo như thế?! Người như cô chẳng có trường nào muốn nhận đâu?!
***
Còn một người lãnh đạo ở Phòng giáo dục mà tôi chưa gặp. Đó là một vị cán bộ trẻ măng, mới ngoài 30 tuổi. Khi được tin anh lên chức phó phòng, trong làng giáo viên có nhiều luồng ý kiến trái ngược nhau. Có người cho rằng trẻ thế mà đã làm lãnh đạo phòng, từng ấy cũng đủ biết nó khôn đến mức nào. Ra trường vài năm, dạy môn phụ, chưa có công lao gì đã được đề bạt làm quản lý, rồi cứ thế lên vùn vụt như diều gặp gió. Nếu không có ô to, dù lớn thì làm sao lại có thể leo nhanh thế được. Có người lại nói rằng, nó trẻ thế thì ắt là năng động, đổi mới hơn các ông già thủ cựu. Và nghe đâu nó có đức độ, biết tôn trọng sự thật. Tôi nuôi niềm hy vọng vào sự đổi mới, sự đức độ của vị phó phòng mới tinh này nên lại mạnh dạn đạp xe lên phòng giáo dục. bằng sự nhã nhặn niềm nở, vị lãnh đạo phòng trẻ măng ngồi nghe suốt buổi với thái độ vô cùng tôn trọng.
Cuối cùng anh ta nói chậm rãi, thận trọng:
- Chị ạ, để giải quyết công việc này, không nằm trong phạm vi của em. Em rất hiểu chị, mọi việc chị nói đều đúng hết. Thế nhưng nếu bây giờ chị làm to chuyện thì không chỉ ảnh hưởng danh tiếng của một nhà trường có tiếng ở cấp tỉnh nhiều năm nay mà còn ảnh hưởng đến phong trào thi đua của Phòng ta. Hay là chị đã nhịn được rồi thì cố nhịn thêm tý nữa. Coi như việc xảy ra với chị là một sự rủi ro, một tai nạn nghề nghiệp chẳng hạn.
Nhịn. “Một điều nhịn chín điều lành” – Câu nói giản dị ấy đã thấm sâu vào ý thức mỗi con người lương thiện từ khi còn tấm bé. Tôi vẫn dạy cho học trò mình qua các giờ văn về lòng nhân ái bao dung, về đạo lý sống, về nhân cách làm người. Rằng ở đời, nếu ta thêm một chút lòng nhân ái, bớt một chút ích kỷ đê hèn tức là ta đã cứu giúp một con người. Còn nếu ta bớt chút lòng nhân ái, thêm chút ích kỷ đê hèn tức là ta sẽ giết chết một con người. Nhịn tức là im lặng để chịu tiếng xấu về mình, để trường khỏi mất danh hiệu. Thôi thì mình chịu thiệt thòi để được cho cả tập thể. Thế cũng là một sự hy sinh. Một điều nhịn để có chín điều lành.
Cô giáo già làm công tác tổ trưởng công đoàn của tổ tôi bỗng đến chơi nhà. Cô ta thanh minh mọi việc đều do chủ tịch công đoàn và ban giám hiệu nhân danh tập thể để làm và khuyên tôi nên bỏ quá vì thành tích của nhà trường.
Im lặng bỏ quá để được việc cho tập thể tức là mình trở thành đồng lõa của những kẻ đang chà đạp mình. Thế nhưng nếu làm rõ trắng đen sẽ có người cho là ác, chưa biết cách sống “Ăn cây nào rào cây ấy”. Thôi thì lùi một bước để thấy đất rộng trời cao, chín bỏ làm mười. Tôi thấy lòng mình nhẹ nhõm hẳn sau quyết định ấy.
***
Lại một năm học mới. Tôi không có tên học chuyên đề thay sách. Ngay từ đầu năm học, thanh tra Sở giáo dục thông báo có vài đơn thư tố cáo ban giám hiệu nhưng Sở không giải quyết.
***
Lại thêm một năm học mới. Lại không có tên tôi học chuyên đề thay sách. Thời khóa biểu của tôi vẫn 2/3 số tiết là môn phụ. Lại có đơn thư tố cáo. Lần này lại đích danh hiệu trưởng chủ trì cuộc họp và thông báo nội dung. Lại những điều ai cũng nhìn thấy nhưng ai cũng cho rằng mình không hề nghe, biết. Có một điều nội dung đơn thư lần nay khác hơn lần trước. Thứ nhất: Hiệu trường tham ô tiền xây dựng trường bằng cách báo bớt số lượng học sinh. Thứ hai: Lập quỹ đen từ tiền học thêm. Thứ ba: Phẩm chất tư cách đạo đức kém, biểu hiện: Thường xuyên đánh bài ăn tiền, quan hệ bồ bịch với giáo viên nữ nên cô này lười nhác, không có năng lực nhưng vẫn được ưu ái quá mức, luôn xếp loại xuất sắc. Hằng ngày, lợi dụng giáo viên chở đi ăn sáng, bỏ bê công việc, hết đánh cờ lại vào phòng nói chuyện điện thoại, để học sinh của trường trộm cắp, quán xá, để giáo viên nam quan hệ với học sinh gây dư luận bất bình. Thứ tư: Dọa dẫm giáo viên để chuyền đổi trường khác, xúc phạm giáo viên trước học sinh. Cuối cùng hiệu trưởng kết luận: Với giọng điệu ấy , chắc chắn đây là giáo viên trong trường tố cáo. Nhà trường này vẫn còn tồn tại những người vô đạo đức như thế! Tôi quyết định bỏ phiếu thăm dò để tìm ra kẻ có bản chất xấu xa, chuyên vu khống. phá hoại nhà trường, đề nghị cấp trên đưa đi thật xa để không còn mầm mống của sự kiện tụng, tố cáo. Nhiều ánh mắt lén lút hướng về phía tôi.
Chị bạn về hưu gặp tôi ở chợ, thông báo một câu ngắn gọn: Phụ huynh đang bàn tán xôn xao về đơn kiện hiệu trưởng. Họ nói vậy là cờ bạc, rượu chè, tham ô, hủ hóa đều có hết. Thế mà lý do gì cấp trên không giải quyết vẫn cho làm hiệu trưởng?
Tôi lại lên gặp trưởng phòng – Lần này là tân trưởng phòng – Một người cũng trẻ và cũng có tiếng đồn còn chút đạo đức. Mấy năm rồi còn gì. Những tia hy vọng về một sự công bằng minh bạch lại được nhen nhóm lên từ tiếng tăm về đạo đức của lãnh đạo phòng mới. Sau khi nghe tôi tường thuật lại toàn bộ cuộc họp, vị tân trưởng phòng nói:
- Bỏ phiếu thăm dò, tín nhiệm để tìm người tố cáo là sai nhưng dù sao vẫn phải tìm cho ra người tố cáo. Lại nữa có những việc tôi thấy trẻ con quá, ví như việc giáo viên chở hiệu trưởng đi ăn sáng chẳng hạn, cái ấy thì có gì phải tố cáo, chuyện nhỏ! Còn như việc giảng dạy của chị, tôi không can thiệp được, việc ấy do hiệu trưởng trực tiếp quản lý và phân công. Theo tôi, tốt nhất chị nên viết đơn xin chuyển trường khác cho thoải mái, hoặc nên dung hòa mọi việc sống cho mềm mại. Nếu còn có việc gì chưa ổn thì chị cứ đấu tranh thẳng thắn ở đây, tôi không thích động một tý là đưa lên báo chí.
Thế là tắt ngấm mọi hy vọng về sự có mặt của những điều tốt đẹp ở Phòng giáo dục này. Hèn gì hiệu trưởng nhà trường mang vẻ mặt dương dương tự đắc khi đem cả những chuyện bồ bịch riêng tư của mình để phô bày trước tập thể mà không hề ngượng. Hèn gì ông ta định cho bỏ phiếu để tìm người tố cáo. Nhìn gương mặt hồng hào căng bóng của trưởng phòng trẻ, bất giác tôi nghĩ, giá như anh ta hình dung ra được mỗi sáng, có những giáo viên lên lớp với cái bụng rỗng nhưng vẫn miệt mài giảng dạy. Và trong giờ hành chính, hiệu trưởng mặt ửng hơi bia, dáng vẻ no nê thỏa mãn, ngồi trên chiếc xe máy có người chở, nghênh ngang tiến vào giữa sân trường, tiếng động cơ phá tan sự yên lặng cần có của giờ học. Gặp cảnh ấy, người có lương tâm nào cũng phải thốt lên: Thật là thiếu văn hóa đến mức lố bịch. Vậy mà trưởng phòng lại coi đó là chuyện nhỏ.
Tôi như người bước vào ngõ cụt. Chẳng biết làm gì hơn, ngồi viết một bức thư dài để tự giải tỏa cho mình. Những điều xảy ra cứ liên tiếp tuôn thành vô số câu hỏi xoắn chặt lấy tâm can nhức nhối. Việc một nhà trường trong ba năm học liên tục đều có đơn thư tố cáo có còn là chuyện bình thường? Việc nghi ngờ, vu khống, truy tìm để trù dập người đấu tranh có đúng với pháp luật? Người phản ánh, tố cáo có phải là người xấu xa vô đạo đức? Vì sao mỗi lần có đơn thư khiếu kiện, Phòng giáo dục đều đặt vấn đề ai là người viết, phải tìm cho ra để đưa đi trường khác mà không đặt câu hỏi sự việc trong đơn thư đúng đến mức nào? Thử hỏi ở một cơ quan có chức năng giáo dục, những việc làm ấy có còn mang tính giáo dục? Còn giáo viên, những người thấp cổ bé họng thì biết kêu ai?
Tôi nơm nớp lo sợ lại tiếp tục có đơn thư kiện cáo nhà trường và cầu mong cho điều đó đừng xẩy ra nữa. Tôi đã nhịn đến nỗi thành ốm đau bệnh tật và sẽ phải nhịn đến bao giờ? Vẫn biết “Một điều nhịn, chín điều lành”, tôi đã nhịn đến quên mình, sao sự lành hiếm thế? Tôi – một công dân lương thiện, một nhà giáo mà nhân cách đang bị bôi nhọ, vẫn hy vọng có ngày được cấp trên gột rửa, trả về với đúng sự sáng trong. Và cứ mỗi khi năm học mới bắt đầu, tôi lại hy vọng được giảng dạy đúng với năng lực của mình để được cống hiến nhiều nhất cho xã hội. Vậy mà sao khó quá? Tôi coi đó là mơ ước về những điều lành. Liệu những điều lành ấy có đến không?
Thư viết xong mà chẳng biết kính gửi nơi nào. Nhân đêm rằm tháng tám, ngắm vầng trăng thu tròn đầy, viên mãn tôi đem bức thư ra giữa trời, hóa vàng. Ngọn khói vân vi, bay mãi lên tận bầu trời trong vắt.
Tháng 7/2006.
Của hồi môn
Trời nín gió, không một hạt nắng. Cảm giác ong ong u u, nóng nực bức bối, tưởng chừng như sự oi nồng đặc sánh lại, bám riết lấy, khiến người ta dễ cáu bẳn. Kiểu này là sắp có bão. Ngoài kia, biển động. Những ngày đẹp trời, con sóng hiền hòa đuổi nhau lăn, lăn vào lòng đất mẹ, đổ xòa xuống bãi cát như cái hôn nhẹ rồi lại ríu rít trườn ra xa, hết lớp này đến lớp khác, không bao giờ mệt mỏi, ngơi nghỉ. Vậy mà không hiểu sao những ngày biển động, con sóng cứ gầm gào, gầm ghì. Mẹ bảo đó là tiếng khóc của biển. Có lẽ mẹ nói đúng, bởi hình như trong tiếng ầm ào, có tiếng thở dài đầy tâm trạng, lại cả tiếng kể chuyện trầm buồn. Để rồi những ngày biển động, tôi cứ mãi tìm nghe thứ âm thanh mang cảm giác chẳng mấy bình yên ấy đến nỗi thành nghiện. Biển vắng bão dông sẽ không còn là biển. Và tôi, nếu thiếu biển, cũng sẽ thấy cuộc đời thiếu vắng một thứ gì đó thân thiết mà không thể gọi tên. Tôi nằm yên, thả hồn về với biển, cố tập trung hết tinh lực để dò tìm thứ âm thanh quen thuộc nhưng không thể. Giữa phố phường nườm nượp xe cộ, làm sao có thể lắng lọc được tiếng vọng từ khơi xa. Tôi nén tiếng thở dài. Cuộc đời vậy là chấm hết. Không thể ngờ mình lại bị căn bệnh ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Cầm kết quả xét nghiệm trên tay, khi biết tôi bị bệnh hiểm nghèo, Kiểm đã khóc. Lần đầu tiên tôi thấy Kiểm khóc.
Ốm đau, tự nhiên mọi công việc đều ngưng trệ. Giống như dòng nước chảy, gặp vật cản buộc phải dừng lại nhưng vẫn tràn lênh láng. Tôi thèm được lên lớp, thèm được nhìn thấy ánh mắt trong trẻo của lũ học trò. Và trên hết, tôi thèm được giảng bài, những bài văn đầy ma lực và mê hoặc. Nghe tôi nói, Kiểm đồng ý. Anh mời bác sỹ đến, thầm thì trao đổi to nhỏ một hồi. Kiểm muốn chuẩn bị cho tôi một chút sức lực, đủ để lên lớp giảng bài lần cuối. Giống ngọn đèn trước lúc phụt tắt, còn cố vắt kiệt mình để lóe lên màu sáng xanh đầy kiêu hãnh. Thật lòng, tôi cũng có chút thiếu tự tin khi quyết định. Bác sỹ bảo bệnh giai đoạn cuối dễ có những sự bất thường. Lỡ không còn đủ sức để nói. Lỡ gục ngã trên lớp giữa chừng. Bao nhiêu giả thiết đặt ra nhưng cuối cùng vẫn không ngăn được ước muốn giống cơn say của tôi. Lũ học trò đón cô giáo bằng sự vui mừng, hồn nhiên, vô tư như chính lứa tuổi thần tiên của chúng. Chúng tưởng tôi đã khỏi bệnh trở về với lớp nên không thoáng chút nghi ngờ. Sự chào mừng của đám học trò làm tôi phấn chấn. Cầm lấy viên phấn, động tác quen thuộc đã mấy chục năm nay bỗng như một sự kích thích, khiến máu trong huyết quản chảy râm ran. Tôi thấy mình khỏe mạnh bình thường không hề bệnh tật. Tiếng cô bé học trò đọc bài trong veo: “ Ôi con sóng ngày xưa/ Và ngày sau vẫn thế/ Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ.” Bài “Sóng” của Xuân Quỳnh. Tôi giảng bài bằng tiếng của sóng nhưng không phải âm thanh ngày biển động mà là tiếng sóng của ngày bình yên, thầm thì, nhè nhẹ, dịu dàng, ngân nga, trầm bổng. Những ánh mắt của tuổi mười lăm lấp lánh, say sưa như tiếp thêm cảm xúc cho bài giảng. Tôi đánh thức học trò bằng cách đọc khổ cuối bài thơ thật diễn cảm: “Làm sao được tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ”, rồi đặt câu hỏi: hãy phát hiện dấu hiệu đặc biệt ở khổ kết bài thơ và điều ấy có ý nghĩa gì? Lũ học trò im lặng. Chúng muốn nhường tôi chăng? Tôi thắp cảm xúc cho các em bằng một lời bình: Khổ thơ kết bài là một câu hỏi. Hỏi không phải để trả lời, bởi bản thân câu trả lời đã có trong đó. Nhà thơ hỏi nhằm để khẳng định. Khẳng định khát vọng vĩnh viễn hóa tình yêu trong thời gian. Vì vậy, câu hỏi được ngắt ra thành bốn câu thơ, tạo nên nhịp điệu dồn dập như những con sóng, lớp sau đè lên lớp trước, giống như tình yêu mãnh liệt đắm say, để tình yêu nhỏ được hòa vào biển lớn, trở thành bất tử. Đến cả ngàn năm sau, những con sóng vẫn mãi hát ru bãi bờ khúc hát yêu thương. Bỗng nhiên, tôi nghe hình như có tiếng biển động gầm gào, gầm ghì. Con sóng cuộn từ đáy lòng, trào lên ngực. Tôi loạng choạng ngồi xuống ghế. Một bụm máu rơi xuống, nhòa trang giáo án. Lũ học trò lúc này mới hốt hoảng, xôn xao.
*
Phải nói Kiểm là người biết chờ đợi. Kiểm không phải là mối tình đầu của tôi. Khi trở thành giáo viên của trường làng quê anh, tôi đã có người yêu, anh chàng công an tài hoa, đẹp trai nhất nhì xã, nhà ngay trước cổng trường mà bạn bè vẫn gọi là Đam San. Chúng tôi yêu nhau, nồng nàn và dữ dội như những ngày động biển, chỉ còn việc chờ chàng bắn rơi mặt trời về làm quà cưới. Thế rồi, chàng đi lao động xuất khẩu và sau bốn năm chờ đợi, Đam San mang về không phải mặt trời mà là một cô vợ người thành phố. Tôi như từ đỉnh cao của ngọn sóng, ụp xuống tận đáy biển, chìm nghỉm, mất tăm. Kiểm xuất hiện. Anh thuộc dạng người cục mịch, nổi tiếng hiền lành, chăm chỉ và thật thà. Kiểm là bộ đội, thường những kỳ nghỉ phép, vẫn đến trường chơi. Nghe anh vòng vo đặt vấn đề, tôi im lặng, không buồn cũng chẳng vui vì tâm trí đã bị phóng vút theo mũi tên Đam San mất hút. Kiểm không hề phật lòng. Về đơn vị, anh thư từ đều đặn dù không hề nhận được một dòng đáp trả. Rồi kỳ nghỉ phép nào anh cũng đến như ma ám. Thuở ấy, những người lính sỹ quan về phép đi đâu cũng mang theo chiếc “giò lợn” bên mình. Ấy là niềm tự hào không chỉ của gia đình mà còn của cả làng xã vì có người con là sỹ quan quân đội. Ấy còn là niềm mơ ước của nhiều cô gái quê “râu thì râu bốn bâu em cũng lấy”. Riêng Kiểm lại khác. Anh không bao giờ mang theo khẩu súng ngắn kè kè cùng bộ quân phục sỹ quan có bốn túi. Những ngày nghỉ, anh giống như những thanh niên khác trong làng, rồi còn đi làm đồng ùi ụi với bố mẹ, tối đến mới đi chơi. Với người già, như thế là có tài mà giản dị, khiêm tốn, chân chất. Lấy chồng còn chọn gì hơn thế.
Tôi biết mình đẹp. Vẻ đẹp vừa sắc sảo vừa mặn mà như nắng gió biển khơi. Những năm học đại học sư phạm, bọn con trai các khoa không giấu sự ngưỡng mộ bằng cách đón chờ tôi đi lấy cơm ở bếp tập đoàn để được ngắm nhìn. Rồi khi thành cô giáo, lũ học trò hào phóng khen cô không giấu diếm. Tôi ngầm kiêu hãnh về mình.
Quê tôi bên bờ cửa biển mà tên gọi đã bao hàm sự nhường nhịn sẻ chia. Cuộc sống thiếu áo cơm nhưng đầy ắp tình người. Năm học cấp hai, mẹ đột ngột qua đời, tôi phải lăn lộn cùng bố nuôi đàn em năm đứa lít nhít. Mỗi khi thuyền về, tôi vác rá đi dọc bãi biển nhận phần thơm thảo từ các nốôc chài đem ra chợ bán. Dần dần, tôi biết mua đi bán lại, chạy chợ như người lớn. Cha thở dài. Ông không muốn con thất học. Cha bảo thất học là thất nghiệp, rồi làm sao nên người. Ông quần quật ngày đêm trằn mình để kiếm sống. Hết mùa ra khơi, những ngày biển động, ông lại chạy chợ. Chiếc đòn gánh trên vai cha lúc nào cũng nặng trĩu. Hai chiếc bồ lúc nào cũng đầy ắp những âu, những nồi, những đùm, những gói, là thứ người ta dặn cha mua hộ. Hàng lên miền ngược là sản phẩm từ kẻ bể. Nào cá tươi, cá khô, mắm ruốc, mắm quầy. Hàng về xuôi là những bồ khoai sắn tươi khô đủ loại. Mùa hè nắng cháy, cha trở về vào lúc nửa đêm, thân mình ướt đẫm mồ hôi, tỏa mùi nắng khét lẹt. Mùa đông mưa dầm gió bấc, cha về khi nhiều người trong làng đã đi ngủ. Ngồi bên bếp lửa, vừa ăn cơm vừa hong quần áo, nước đọng thành vũng dưới chân, cả người bốc hơi nước mù mịt tưởng như một cuộn khói. Tôi biết quần áo của cha không nhiều, chỉ bộ nghiêm bộ nghỉ. Lại có những ngày tàu bay Mỹ quần đảo, bầu trời mặt đất nhàu nát. Cha trở về lấm lem từ đầu đến chân vì bị bom vùi, chỉ còn sót lại hai con mắt và cái miệng tươi cười. Bao giờ cũng vậy, đặt gánh xuống, chưa kịp thở là cha hỏi: các con đã ăn cơm chưa? Con có cho em ăn no bụng không đấy? Cha bảo không phải để phần cơm cho cha nhiều như thế. Cha ăn khoai sắn cũng được. Tôi mách: con chia cho mỗi đứa một tô đều như nhau nhưng thằng út bao giờ cũng nghển cổ dòm vào nồi. Nó nghiêng qua nghiêng lại cái đầu một lúc như để cân nhắc, so đo rồi hỏi: chị để cơm cho ai mà nhiều thế. Rồi lại tự trả lời: cơm của cha à? Sao cơm em nhiều khoai mà cơm cha lại ít khoai? Nó đành hanh vậy thôi cha ạ. Nó biết tô của nó bao giờ cũng ít phần độn nhất. Cha nghe và cười. Tiếng cười hiền khô nhưng tôi thấy khóe mắt cha loáng nước. Chiến tranh, mất mùa, đói kém liên miên, nồi cơm toàn khoai sắn. Mỗi lát sắn khoai cõng vài hạt cơm đã là no ấm lắm rồi. Cha trăn trở lo từng bữa ăn. Bàn chân trần của cha cứ bấm vào lòng đất, đi khắp miền ngược, miền xuôi, ngày nắng cũng như ngày mưa. Trên đôi vai gầy, chiếc đòn gánh bao giờ cũng oằn cong nặng trĩu. Chị em tôi ngày càng khôn lớn và đứa nào cũng được học hành đến nơi đến chốn. Còn bàn chân cha, năm ngón tòe ra năm hướng, đến nỗi suốt đời phải đi chân đất vì không kiểu dép nào lọt những ngón chân ông.
Thắm, cô bạn gái thân thiết con chấy cắn đôi đi lấy chồng. Tôi được một phen vất vả bận rộn. Bưng khay trầu cho Thắm chào họ mà không khỏi ngạc nhiên khi lần đầu tiên được biết đến những lễ nghi tưởng như chỉ là sự khoe khoang của những người lắm tiền nhiều của. Sau tuần trà nước, là màn trao sính lễ. Đầu tiên, bà nội chú rể đứng lên: Thưa hai họ, hôm nay ngày lành tháng tốt, gia đình chúng tôi xin có lời để được đón cháu dâu về. Bà nâng chiếc nón lá mới toanh chưa buộc quai lên: đây là chiếc nón lá, tượng trưng cho sự đùm bọc chở che của cả hai gia đình. Mời hai mẹ, những người đẻ ra cô dâu chú rể cùng buộc quai nón. Thế là mẹ chồng buộc một bên quai, mẹ Thắm buộc một bên quai. Bà cụ trao chiếc nón cho Thắm và nói: thưa ông bà thông gia, người đời có câu chòng chành như nón không quai. Chiếc nón này đã được cả hai bên gia đình chăm chút, buộc quai bền chặt, sẽ không còn chòng chành nữa phải không ạ? Cả hai họ gật gù tán thưởng. Bà mẹ chú rể đeo vào cổ Thắm chiếc kiềng vàng to bự dễ đến ba bốn chỉ. Bà nói nhỏ: Đạo vợ chồng trăm năm kết tóc, con ăn ở sao cho đúng phận của mình. Từ nay, cái cổ này không được ngoảnh ngược ngoảnh xuôi, con mắt không được liếc ngang liếc dọc. Mọi người lại gật gật đồng tình. Bà mẹ Thắm đeo cho con đôi khuyên tai và dặn: Vợ chồng ăn ở với nhau không chỉ bằng chữ đạo mà còn bằng cả tình nghĩa. Đôi khuyên này nhắc con từ nay nhớ luôn nghe những lời vàng ngọc, chớ nghe lời tán tỉnh nhảm nhí, lăng nhăng . Bà nội đeo cho Thắm chiếc nhẫn và nói như tổng kết: tất cả mọi thứ cháu đeo hôm nay đều là vàng ròng, nó được chắt chiu từ công lao của những người sinh thành và giống như tấm lòng yêu thương của hai họ. Bà chúc cháu hạnh phúc. Cuối cùng là chú rể. Chiếc nhẫn kim cương lóng lánh được lồng vào tay Thắm với lời dẫn ngọt ngào: Anh đã tìm mua ở một tiệm kim hoàn nổi tiếng châu Âu. Hy vọng là em thích nó. Anh mong tình yêu chúng mình bền chắc như viên kim cương này. Cả hai họ lại gật gù, xuýt xoa. Mặt Thắm hồng lên vì hạnh phúc.
Lần đầu tiên tôi biết thế nào là sự thiệt thòi của đứa con mồ côi mẹ.
Ngày tôi lấy chồng, cha bần thần không ngủ. Ông khẽ khàng gọi tôi dậy và thắp hương lên bàn thờ của mẹ. Tôi chắp tay cung kính đứng về bên. Cha khấn: vậy là tôi và bà xa nhau đã mười mấy năm trời. Bà ra đi để lại mình tôi sáu đứa con thơ. Ở trên trời chắc bà cũng thấy vui khi tôi đã nuôi các con khôn lớn thành người. Nay con gái đầu lòng của chúng ta sắp về nhà chồng. Chỉ tiếc bà không còn sống để được thấy con trong ngày hạnh phúc. Và tôi cũng chẳng có gì đáng giá cho con làm của hồi môn. Giá như có bà... Cha bỏ dở câu nói nửa chừng, những tiếng ực ực từ cổ họng cha cố nuốt xuống nhưng vẫn cứ trào ra, khiến nó cứ âm âm như tiếng sóng ngày biển động. Ba nén nhang trên bàn thờ bỗng nhiên bùng cháy, soi tỏ gương mặt đầy nếp ưu tư của cha.
Vậy mà cha vẫn có quà cho tôi, nó được cất kỹ trong rương từ lúc nào. Phải lúi húi mất một lúc, cha mới mở được cái bọc giấy báo. Đó là tấm vải lụa đen ba đồng sáu và tấm vải pha lon trắng muốt. Cha bảo đây là hàng phân phối, những người như cha không có tiêu chuẩn. Thấy người ta mặc đẹp, cha mua lại phiếu vải chợ đen, để có chút quà cho con. Tuy chẳng đáng giá gì nhưng mong con hiểu tấm lòng của cha. Cha chúc con hạnh phúc. Con hãy yêu thương chồng con mình như cha đã yêu con.
Ngày tôi về nhà chồng, cả làng hân hoan không ngủ. Cô gái đẹp nhất vùng cửa biển lấy chồng. Tôi mặc chiếc quần lụa đen và chiếc áo pha lon trắng cha cho. Đội chiếc nón lá tự mua và tự buộc quai lấy. Tôi theo cha đi trước, cả làng lội bộ theo sau. Từ quê tôi sang quê Kiểm phải đi qua một cồn cát cao và một dải bờ biển. Tôi xách dép, dẫm bàn chân trần trên cát ướt. Cát mềm mại, mát rượi, như ve vuốt, như bịn rịn. Tôi nghe cảm giác mặn mòi ngấm vào da thịt. Đám cưới dài rồng rắn nối đuôi nhau đi trong tiếng sóng ầm ì.
Nhà Kiểm đông người. Những ngày nghỉ chóng vánh trôi qua, anh về đơn vị, tôi sống chung cùng gia đình. Đất nước hết chiến tranh nhưng gian khổ vẫn còn hiện hữu. Cuộc sống thời bao cấp nếu ai đã trải qua hẳn sẽ còn nhớ mãi. Tôi chia đồng lương của mình làm ba phần. Phần đưa cho mẹ chồng gọi là góp tiền cơm. Phần gửi về giúp cha nuôi em và phần để dành cho những kỳ đi thăm Kiểm. Vậy mà vẫn không ổn. Mẹ chồng mặt nặng, mày nhẹ, các em chồng bĩu môi, bĩu mỏ, nói bóng, nói gió. Họ không thích kiểu ăn mặc sạch sẽ của tôi. Lấy chồng rồi phải ăn mặc theo kiểu có chồng chứ. Quả thật, cuộc sống người dân biển ngang vô cùng gian truân, vừa làm ruộng vừa làm nghề chài lưới. Đất ruộng mặn chát đến nỗi cây lúa bám phèn vàng ngầu. Biển cũng chẳng có mấy cá tôm. Thành ra mồ hôi chan xuống đất nhưng đói vẫn hoàn nghèo. Những người phụ nữ ở quê thời ấy thường lấy chồng xong tự nhiên biến thành kẻ khác. Ăn mặc lòe xòe, quần ống thấp ống cao, bước đi như chạy tưởng bị ai đuổi. Ra đường không được dòm ngược ngó xuôi, hoặc cười nói với những người đàn ông khác, đặc biệt những người có chồng đi xa điều ấy lại càng hệ trọng. Như vậy mới được coi là chỉn chu, là chính chuyên. Tôi không thể làm thế. Hàng ngày lên lớp, đứng trước học trò, cô giáo ăn mặc lôi thôi, lếch thếch coi sao tiện.Tôi chỉ thay đổi để đẹp hơn chứ không thể làm mình xấu đi một cách vô lý như thế. Cuộc sống của tôi ở nhà chồng ngày càng tẻ nhạt. Cứ thế, tôi lặng lẽ sống giữa vòng vây của những quan niệm ấu trĩ một thời. Sau lần về thăm nhà, Kiểm quyết định mang vợ theo cùng. Tôi trở thành cô giáo của thị trấn nghèo miền cao nguyên và bắt đầu gây dựng cơ nghiệp bằng đồng lương của một cô giáo với sỹ quan cấp úy. Dại mới lấy giáo viên, điên mới lấy bộ đội, thời ấy người ta vẫn nói đùa như vậy. Đó là chuỗi ngày đầy gian nan không kém cuộc sống thời bao cấp ở quê nhà. Tôi sinh con, vừa nuôi con mọn vừa lên lớp cực không thể tả. Có khi đến giờ vào học, bồng con chạy khắp khu tập thể, hễ ai trống tiết là nhét con vào tay họ chạy vội. Ngoài ra còn nuôi lợn, nuôi gà, tăng gia sản xuất. Kiểm ban ngày làm việc đơn vị, đêm về tranh thủ đóng gạch xây nhà. Như bầy kiến tha lâu đầy tổ, cùng với sự góp sức của bạn bè, cuối cùng hai gian nhà cấp bốn cũng được dựng lên trên mảnh đất trường cho mượn phía sau khu nội trú. Thành quả ấy thấm đẫm mồ hôi và nước mắt theo đúng nghĩa. Có được mái nhà gọi là của mình nhưng cuộc sống vẫn không mấy dễ thở. Đồng lương vẫn được chia ra nhiều phần. Phần chi tiêu, phần trả nợ làm nhà, phần tiết kiệm gửi về giúp gia đình. Thiên hạ mua xe máy, mình đi bộ. Thiên hạ lên đời xe máy, Kiểm vẫn đi xe đạp. Sự nghiệp của anh cũng không mấy thuận lợi. Những người cùng lứa họ thăng tiến vù vù, riêng anh vẫn lẹt đẹt. Kiểm vốn ít nói nay lại càng trở nên lầm lì. Tôi tự nhủ mình, Kiểm là con người của công việc, hơn nữa bản tính anh thật thà chất phác nên có khi dễ mếch lòng. Nhiều lúc, tôi thấy Kiểm ngồi lặng thinh hàng giờ, nét mặt căng thẳng vẻ như đang toan tính điều gì. Cũng có khi anh bảo tôi đi mượn tiền để lo công việc. Rồi Kiểm thường vắng nhà. Tôi vừa thắc mắc, vừa ngỡ ngàng không hiểu chuyện gì.
*
Thế rồi, Kiểm lên vùn vụt. Cùng với cấp bậc là chức vụ. Chúng tôi dời nhà ra mặt phố. Kiểm mua căn nhà tầng kiểu biệt thự với hai mặt tiền mà không phải nợ đồng nào. Cuộc sống dễ thở hơn nhiều, mỗi lần nhận lương về, tôi không còn phải chia ô để tính toán món nào chi khoản gì cho hợp lý. Kiểm bảo, từ nay cô không phải lo nợ nần trang trải gì nữa hết. Tất cả tôi thừa sức. Đồng lương của cô chỉ đủ để cô ăn quà sáng. Anh nói mà không hề để tâm đến thái độ ngạc nhiên của tôi. Anh vắng nhà nhiều hơn, có khi đêm không về. Hỏi thì anh bảo công việc ở đơn vị bù đầu, làm xong khuya quá nên ngủ lại. Tôi tin ngay bởi tôi nghĩ anh là con người của công việc và bản tính vốn tận tâm. Hàng ngày, trong ngôi biệt thự rộng rênh, ba mẹ con chúng tôi như bị lọt thỏm giữa những vật dụng gia đình. Và rồi sau mỗi lần chờ cơm Kiểm đến khuya vẫn không thấy anh về, khi các con học xong bài đã ngủ yên, tôi bỗng có cảm giác thèm được ở trong căn nhà nhỏ phía sau khu nội trú. Nhỏ nhưng ấm cúng, vợ chồng con cái lúc nào cũng quây quần bên nhau.
Thắm gửi thư về từ châu Âu. Vẫn giọng điệu hấp tấp vội vàng như tính cách nó nhưng con chữ lại nặng trĩu nước mắt: Mày thân! Mày có bất ngờ không khi nhận được thư này của tao? Nhưng bất ngờ mà làm gì khi cuộc đời đầy rẫy những bất ngờ? Thế là sau ngày cưới, tao bay theo chồng sang châu Âu, nhanh đến mức không kịp tạm biệt mày, giống như lúc tao quyết định lấy chồng. Với tao lúc ấy, vầng hào quang của hạnh phúc loa lóa ánh kim tiền. Và tao tưởng chỉ cần thế là đủ. Tao đã không cần suy nghĩ lâu lắc khi anh ấy đặt vấn đề, mặc dù tao biết anh ấy có người yêu chờ đợi đã mấy năm. Tao gật đầu liền vì trong tim lúc ấy chỉ ánh lên màu đỏ của chiếc áo phao mang về từ châu Âu- thứ mà dân sành điệu kháo nhau- cả tỉnh chỉ có chiếc này là chiếc thứ hai, chiếc thứ nhất là của cô mậu dịch viên Bách hóa tổng hợp cũng có người yêu ở Đức. Tao mặc áo và ngồi sau chiếc xe Sim-sơn để anh ấy chở đi khắp nơi. Đâu đâu tao cũng có cảm giác mọi người đang nhìn mình với vẻ khát thèm. Cái áo đã là lạ, chiếc xe Sim-sơn lại càng lạ. Những cô gái nhìn chiếc áo rồi lại nhìn vào mắt tao. Những chàng trai ngắm nghía chiếc xe rồi cũng nhìn vào mắt tao. Tao cứ tưởng màu đỏ của chiếc áo và màu khói xe phụt ra bao trùm cả vùng trời. Giờ nghĩ lại, thấy tao lấy chồng mà sao giống kiểu chộp giật quá. Chỉ đến lúc sang tới châu Âu mới vỡ lẽ. Anh ấy làm công nhân ở một nhà máy, giờ giấc chính xác đến từng giây từng phút. Ngoài ca của mình, hễ có ai nghỉ lại xin làm để tăng thêm thu nhập, hòng mong có chút vốn liếng mang về. Những gì chúng tao trưng diện cho đám cưới là tài sản mấy năm làm việc mà anh tích cóp được. Vậy mà tao cứ ngỡ sang đây là chỉ việc tiêu tiền, ăn chơi thỏa sức. Chồng đi làm từ lúc tinh mơ đến tối mịt. Mình tao ở nhà trong căn phòng ổ chuột, tiếng tăm lỗ mỗ, công ăn việc làm chẳng có. Nhàn cư vi bất thiện. Tao tìm cách kết bạn và vớ bẫm. Đó là một lão già người châu Âu chính hãng, góa vợ hay bỏ vợ gì đó không rõ nhưng giàu sụ. Lão có cả công ty mẹ công ty con, xe hơi đời mới nhất. Tao bỏ chồng và đồng ý lấy lão. Còn lão vớ được tao như mèo mù vớ cá rán. Lão đưa tao về ngôi nhà sang trọng khác xa cái ổ chuột tao đang ở. Lão tậu riêng cho tao một cái xe ô tô và bảo chỉ cần đẻ cho lão những đứa con là đủ. Những tưởng đời đang lên hương, bỗng nhiên đùng một cái lão đột tử. Nhà lầu xe hơi tự nhiên bị các con lão lột sạch vì danh chính ngôn thuận, tao và lão chưa bao giờ đến nhà thờ làm lễ cưới nên tài sản đều là của lão. Hơn nữa, tao là người nhập cư bất hợp pháp không có giấy tờ tùy thân. Một mình đánh liều trở về khu nhà ổ chuột với niềm hy vọng may mắn được anh ấy tha thứ nhưng anh đã lấy vợ. Vậy là cuộc đời tao bỗng nhiên như chiếc thuyền đi vào vùng tâm bão, mù mịt chẳng thấy bến bờ và không chừng bị đắm. Bao nhiêu vòng, xuyến, nhẫn, hoa tai hôm cưới phải bán sạch. Và hiện giờ tao chẳng còn gì ngoài tấm thân mình. Mày ơi, mày có thương tao không? Hãy gửi cho tao một tấm vé để tao về với mẹ! Nếu không, tao chỉ còn nước bán thân mình kiếm sống rồi bỏ xác ở xứ này.
Tôi buông lá thư thở dài. Trong đầu loáng thoáng hình ảnh của Thắm ngồi trên chiếc xe Sim-sơn phụt khói xám, gương mặt ngời ngời hạnh phúc, theo sau là họ hàng, bạn bè, lếch thếch đi bộ đưa Thắm về nhà chồng.
Dạo này, Kiểm không hay vắng nhà vào ban đêm. Cứ mỗi chiều thứ sáu, anh lại đi vắng đến hết chủ nhật mới về. Anh bảo cùng mấy người bạn lo công việc, thời buổi khó khăn, mọi sự theo đó cũng khó khăn thêm nên mình phải chấp nhận vất vả. Tôi im lặng. Khó khăn gì mà tuần nào cũng đi, được ngày nghỉ nhưng chẳng bao giờ thấy mặt ở nhà. Và rồi bỗng nhiên tin đồn lan khắp thị trấn, ba ông to nhất huyện cuối tuần lại chung xe rủ nhau lên thành phố mát xa mát gần. Cả ba ông thường bao chung một “con em”, ăn chơi xả láng cuộc đời. Tôi hỏi Kiểm. Kiểm tỉnh khô: đúng vậy. Chẳng lẽ cô cứ bắt tôi ôm mãi con bà già suốt đời sao? Nghe giọng nói lạnh lùng, biết là Kiểm nói thật. Một cảm giác ghê tởm trào lên khiến tôi muốn ói mửa.
Con bà già. Thật là chua chát. Ngày quyết định lấy Kiểm, tôi đã nói với anh tôi nhiều hơn hai tuổi. Kiểm cười hiền lành bảo điều ấy không có nghĩa lý gì với tình yêu. Nhìn nét mặt thừ thộn vì hạnh phúc của anh, tôi cảm nhận đó là lời chân thật. Con bà già. Tôi đã đánh đổi cuộc sống gia đình bằng tất cả những gì mình có, thậm chí đôi khi còn phải gồng lên để tồn tại. Con bà già. Những tiếng ấy cứ bám riết lấy tôi một cách lì lợm, như chọc tức, như giục giã phải làm một điều gì đó cho hả giận. Lạ thật. Tôi không hề khóc mà chỉ thấy trong lòng cứ gầm gào, gầm ghì giống tiếng sóng ngày biển động. Tôi cũng không cãi cọ hay bày tỏ thái độ gì. Lỗi là tại tôi luôn tin những điều Kiểm nói. Nhớ lại ngày còn ở khu nội trú, nhìn thấy Kiểm ban ngày lo công việc đơn vị, đêm về trằn mình đóng gạch, thấy xót xa. Tôi bớt xén chi tiêu, mua thêm chiếc chân giò, luộc lên để bồi dưỡng cho chồng, nằm ru con ngủ, chờ anh xong việc để vợ chồng cùng ăn. Mười một giờ đêm anh mới nghỉ và không hề gọi vợ, một mình lặng lẽ ăn hết cả chiếc chân giò. Sáng dậy, tôi vừa rửa bát chùi nồi vừa nghĩ chỉ có người thật thà đến vụng về nên mới vậy.
Cuộc sống gia đình vẫn được chăm lo chu đáo như vốn có. Dù sao thì Kiểm cũng là bố của các con tôi và tôi muốn các con không nghĩ xấu về bố chúng. Chỉ có điều, từ hôm ấy, tôi chỉ còn là cái bóng.
*
Nồi nước tắm bằng lá thơm đã sôi. Cô bạn đồng nghiệp cùng trường năn nỉ đòi tắm cho tôi nhưng tôi chờ Kiểm về. Kể từ hôm ốm, việc đó đều do Kiểm làm. Kiểm không hề thở than và cũng không tỏ ra bực bội. Anh im lặng. Ngày đến cơ quan, hết giờ về nhà. Thứ bảy chủ nhật cũng không còn đi vắng. Thỉnh thoảng lại thấy anh hỏi: Phở sáng em mua ở hàng nào, sao anh mua về mà cả mấy bố con ăn không nổi? Hoặc canh thịt nạc nấu với gì là hợp nhất? Sao con gái lười ăn quá, nó đang tuổi lớn mà ăn như thế là không ổn, mọi hôm em hay nấu món gì mà con thích? Tôi chỉ cho anh. Kiểm ngồi nghe chăm chú như một đứa học trò.
Những cơn đau ngày càng rõ và tăng dần, nhiều lúc phải nghiến răng trèo trẹo. Kiểm mua cho tôi một cái máy nhỏ, giống như chiếc gối bướm xinh xắn để đặt lên bụng, nơi có khối u. Máy rung nhè nhẹ, cảm giác đau đớn giảm hẳn. Tôi ngủ được đôi chút.
Khối u trong dạ dày vỡ. Tôi thổ ra cả chậu máu đỏ lòm. Kiểm mời bác sỹ đến. Qua khung cửa bỏ ngõ, âm thanh lọt vào phòng. Viên bác sỹ bảo: Sự sống của cô ấy chỉ còn tính tuần, không thể tính tháng. Giọng của Kiểm: nhưng con gái tôi sắp thi đại học, tôi muốn kéo dài qua tháng bảy, khi cháu thi xong, liệu có cách nào không? Sau một hồi im lặng, bác sỹ bảo, có đấy nhưng phải vô cùng tốn kém vì bây giờ mới là tháng hai. Kiểm bảo: tôi chấp nhận. Tôi muốn cô ấy được nhìn thấy quả ngọt mà suốt đời đã khó nhọc vun trồng. Đó là giai đoạn tôi sống chủ yếu bằng thuốc và các chất bổ dưỡng được truyền qua tĩnh mạch. Cái dạ dày của tôi giờ lở loét thành hang hốc, không thể dung nạp bất cứ thứ gì ngoài hỗn hợp của sữa trộn bột tam thất. Mỗi tuần, bác sỹ đến tận nhà truyền cho tôi một bịch máu tươi và một lọ thuốc bằng ngón tay út mà giá cả triệu đồng. Nhờ vậy tuy gầy nhưng da dẻ tươi tắn và tôi vẫn đi lại được trong nhà. Con gái vẫn hồn nhiên vô tư, chắc cháu nghĩ mẹ đã sắp khỏi bệnh. Chỉ có Kiểm, anh tất bật hơn. Nhiều lúc tôi thấy anh đi như chạy ra chợ, rồi trở về hì hụi nấu nướng để các con kịp ăn cơm đi học ca chiều.
Cuối cùng con gái thi đậu đại học, vào ngôi trường danh tiếng ở thủ đô mà cháu yêu thích. Ngày con gái nhập trường cũng là ngày khối u trong dạ dày vỡ lần thứ hai, tôi lại thổ ra cả chậu máu. Bác sỹ bảo cuộc sống của tôi chỉ còn tính từng ngày. Tự dưng Kiểm vắng nhà suốt cả tuần liền, chiều nào tôi cũng chờ anh về tắm mà không thấy. Người nhà bắt đầu hoang mang khó chịu, cằn nhằn, trách cứ. Rồi anh trở về, thông báo với mọi người đã chọn được cây gỗ mít to, khô thật ưng ý và đóng cho tôi cỗ hậu sự sơn son thếp vàng đẹp nhất có thể.
Tôi thấy lòng mình vô cùng thanh thản, chỉ thỉnh thoảng nhớ con gái đang ở xa. Rốt cuộc nó cũng chịu thiệt thòi mồ côi mẹ sớm. Rồi có nhiều điều con phảỉ tự mình học hỏi từ cuộc đời, phải tự mình chăm lo cho cuộc sống mà không có sự đỡ đần của mẹ. Nằm vắt tay lên trán, thấy chạnh buồn vì chưa làm được gì nhiều cho con, tôi quyết định viết cho con gái bức thư.
Nguyệt Minh (Trăng Sáng) con yêu của mẹ.
Đặt tên cho con, mẹ mong ước con sẽ là vầng trăng của cuộc đời mẹ. Và kỳ diệu thay con đúng là một vầng trăng. Vóc dáng mảnh mai, yêu kiều như trăng non đầu tháng. Gương mặt thánh thiện, ngời sáng tựa trăng rằm. Làn da mịn màng thơm mát ngỡ tất cả vẻ thanh khiết của ánh trăng đã được tạo hóa chuốt lọc và ban tặng cho con. Con là một cô gái đẹp con yêu ạ.
Ngắm nhìn nhan sắc ấy, mẹ thoáng chút mơ hồ. Sắc đẹp đầy quyền năng nhưng đôi khi cái đẹp cũng gặp nhiều phiền toái. Đó là sự ganh ghét của tạo hóa, con chớ bất ngờ. Hãy hiểu rằng cuộc đời không cho ai tất cả và cũng không lấy mất của ai tất cả. Rồi con sẽ yêu, sẽ hạnh phúc và có khi là cả sự đau khổ. Âu đó cũng là lẽ thường tình. Hãy bình tĩnh để vượt qua và đi tiếp. Duy có một điều mẹ muốn con ghi nhớ. Tình yêu không bao giờ dung chứa bạo lực, không phải là thứ để giành giật, càng không thể mua bán được bằng tiền. Mẹ muốn con hãy yêu người đàn ông của mình thật đắm say nhưng đừng mù quáng, bằng tình yêu đích thực và sự chân thành vốn có, bằng cả đạo nghĩa và tình nghĩa. Nếu chẳng may họ có lầm lỗi, con hãy làm cho họ tin rằng, trên thế gian này, không có nơi nào ấm áp hơn tình yêu của con. Và thế là họ sẽ quay về. Sự tha thứ bao dung là trang sức đẹp nhất của người đàn bà đẹp. Đến lúc ấy, cả sắc đẹp và tình yêu cùng cứu rỗi thế giới. Con yêu, mẹ chúc con hạnh phúc.
Tháng 11-2013.