Nét đặc trưng tạo nên sự cuốn hút của người thưởng ngoạn ở tranh Trần Hà đó là sự khai thác bút pháp dân gian, kết hợp với hiện đại, được cách điệu trên mặt phẳng bình đồ, không gian ước lệ. Tạo hình trong tranh của tác giả rất khỏe khoắn, bố cục ngang dọc lạ mắt, hơi nghiêng về lập thể, với gam màu nóng, giàu sắc độ, giàu chất trang trí, tương phản nhưng hài hòa.
Họ tên: Nguyễn Xuân Diệu
Sinh ngày: 13-10-1951
Quê quán: Xóm Lĩnh Thành, xã Xuân Đan, Nghi Xuân, Hà Tĩnh
Bút danh: Xuân Đan, Nguyễn Xuân
Hội viên chuyên ngành Văn xuôi - Hội liên hiệp VHNT Hà Tĩnh, Uỷ viên BCH Chi hội VHNT huyện NGhi Xuân
ĐT: 0126383 5559; E mail: xuandieugiangdinh@gmail.com
Quá trình công tác:
- Từ 4-1968 là Mũi trưởng đặc công thuộc Tiểu đoàn đặc công 31, Quân khu Bốn, tham chiến tại các mặt trận Quảng Trị, Thượng Lào, Trung Lào từ 1969 -1973.
- Tháng 10-1974, về làm phóng viên Báo Quân khu 4
- Tháng 4-1975, học viên Sĩ quan chính trị Phân hiệu Lục quân 1
- Năm 1978 học Đại học Báo chí khóa III – Trường Tuyên giáo Trung ương (1978-1983)
- Hội viên Hội VHNT Hà Tĩnh năm 2008
Tác phẩm:
- Chớp lửa đỏ - Tập truyện ký ( In chung 1974)
- Miền cát chảy – Truyện ký ( In chung 1978)
- Có các truyện ký in trong các tập sách: Ánh Lửa ( QĐND – 1999), Bên dãy Trường Sơn ( QĐND – 2008), Chúng tôi là bộ đội Cụ Hồ ( QĐND – 2004), Miền đất Lửa (QĐND – 2005), Mảnh đất tình người ( NXB Văn học 2008)…vv và nhiều truyện, ký in trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương.
Giải thưởng:
1) Chuyện ở bản Thậm Ngoi (Bút ký) Giải nhì Đài tiếng nói Việt Nam năm 2000
2) Những người lính không rõ hòm thư ( Bút ký) Giải nhất Báo QĐND
3) Tấm lá chắn bên cửa biển (Phóng sự) - Giải B Đài tiếng nói Việt nam 2002
4) Ân nghĩa những tấm lòng (Bút ký ) Giải A – Tổng cục Chính trị QĐND 2004
5) Bằng khen có tác phẩm văn học, báo chí xuất sắc từ năm 2001-2005 – Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam.
6) Bức thư ngỏ của một bà mẹ Việt Nam gửi các bà mẹ Mỹ ( Bút ký) ( ký bút danh Nguyễn Thị Lan ) – Giải A TTX Việt Nam 2009
7) Giết chết những giấc mơ ( Bút ký), Giải B- TTX Việt Nam 2009
8) Tay không cứu sống rừng bần ( Bút ký), Giải nhất – Đài tiếng nói Việt Nam 2009
Tác phẩm tự chọn:
CÔ GÁI ĐÊM ĐỒNG LỘC
CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ…
Bút ký
Người đàn ông ấy thật lạ. Trong đoàn khách hành hương về Ngã ba Đồng Lộc, trông ông sao cứ khang khác. Chừng 60 tuổi, dáng dấp thị thành, mặt mũi phương phi, ông lịch lãm trong bộ áo quần sang trọng. Với vẻ thành kính, đi từng bước rất nhẹ như sợ người nằm dưới mộ thức giấc, ông lần lượt cắm nhang lên 10 ngôi mộ các liệt sĩ nữ thanh niên xung phong anh hùng. Xong đâu đấy, ông đứng lặng, lầm rầm khấn điều gì đó, cúi đầu kính cẩn mặc niệm một lần nữa, mới thẫn thờ bước đến ngồi yên lặng bên miệng hố bom oan nghiệt, một ngày tháng 7 của 39 năm trước đã giết hại một lúc 10 cô gái trắng trong. Đôi mắt ông nhìn như bất động xuống cái hố bom đang toả lên những làn khói xanh mờ, trầm mặc. Tò mò, tôi đi đến bên ông:
- Tôi hỏi thật không phải: Hình như ông về đây thắp hương cho người thân?
Vẫn ngồi bất động như không hề nghe tôi hỏi, đầu không ngoảnh lại, tiếng ông rơi vào tiếng gió rừng thông ào ạt:
- Không chỉ là người thân mà là một ân nhân, anh ạ! Phải! Một ân nhân! Ấy vậy mà suốt gần 30 năm ròng, tôi lại là một kẻ vô ơn…!
***
…Đó là một ngày giữa tháng 4 năm 1968, đại đội xe Gát ba cầu chúng tôi chở vũ khí vào tiền tuyến. – Khi đã ngồi yên vị với tôi dưới bóng rợp một tán thông, ông kể - Đến Bãi Vọt thì đoàn xe bị đánh bom. Cả đoàn chỉ xe tôi “ dính”. Phụ lái bị thương, xe thì chết máy. Đại đội trưởng đành để xe tôi ở lại sửa chữa rồi đuổi theo đoàn sau. Thật may, chỉ trong ngày xe được sửa xong, tôi liền quyết định lên đường ngay đêm đó. Vốn là dân Hà Nội gốc, lần đầu vào Khu Bốn nên tôi mù tịt đường sá. Chỉ có cái sơ đồ đại đội trưởng vẽ bằng mực Cửu Long để lại, dặn cứ theo đó hỏi đường mà đi. Khoảng 8 giờ tối, trời có trăng, nhưng những đám mây mưa kéo về đen đặc nên trời loà nhoà tối. Tôi cứ “ bắt ” đường số 8 “ chiếu” hướng tây mà chạy. Chạy chừng 5 hay 6 cây số, đến một ngã ba, cứ theo sơ đồ là ngã ba Lạc Thiện. Thấy có ánh đèn phòng không le lói trong trạm gác bên đường, tôi dừng xe toan đến hỏi. Bỗng nghe tiếng con gái dưới gốc bạch đàn bị bom phạt cụt ngọn trước mặt:
- Bác tài bộ đội ơi, cho em đi nhờ về Đồng Lộc với!
Đang định hỏi đường lại có người xin đi nhờ xe về nơi mình đến, mà người ấy là một cô gái, tôi mừng quýnh, vội vã cất giọng điệu đà:
- Xin mời! Xe tôi về Ngã ba Đồng Lộc khói lửa đây, thưa cô!
Chẳng khách sáo, cô gái đi tới mở cửa leo lên ca - bin. Tôi bật đèn buồng lái. Trong ánh sáng ngọn đèn 12 vôn được che kín, chỉ hở một lỗ bằng hạt ngô, tôi nhận ra cô gái mặc sắc phục thanh niên xung phong. May rồi! Có thanh niên xung phong đi cùng, đường sá mấy cô này còn thuộc hơn cả thổ địa. Hình như đoán được ý nghĩ của tôi, cô gái nói rất kẻ cả bằng cái giọng Hà Tĩnh thật buồn cười:
- Anh là lính mới phỏng? Rứa thì nghe em đây: Cho xe rẽ trái. Chạy khoảng 15 cây số là tới Đồng Lộc. Đến đó em sẽ chỉ đường tiếp cho!
Tôi cười nụ, nổ máy, bật đèn gầm, quẹo xe theo tay cô chỉ. Đi được một quãng, cái giọng từng trải của cô gái lại vang lên:
- Đoạn ni thì anh bật đèn gầm được. Nhưng đến gần Đồng Lộc, em bảo tắt đèn là tắt liền. Thằng A35 mà phát hiện được là hết đường về quê mẹ ngay!
- A35 là cái thứ gì mà ghê gớm thế cô?
- Là máy bay trinh sát điện tử của thằng Mỹ. Thằng ni thính hơn cả chó!
Tôi bật cười về cách nói đầy chất lính tráng của cô. Mới chạy được vài cây số, chẳng nghe tiếng máy bay đâu mà phía trước, phía sau, chớp bom đỏ khé cùng những tiếng nổ lộng óc.“ Kệ cha nó! Trời mưa nên chúng ném bom toạ độ đấy. Chạy đi! Hết mưa là chúng thả đèn dù cho coi!”. Nghe tiếng cô bình thản như không, tôi cũng thấy vững dạ. Cái máu tán của thằng con trai Hà Thành nổi lên, tôi làm ra vẻ hiểu biết:
- Ở Hà Nội tôi nghe nói Ngã ba Đồng Lộc được mệnh danh là túi bom, là cửa tử. Các cô phải đối mặt với chúng nó hàng ngày, hẳn vất vả, nguy hiểm lắm?
- Có chi mô anh! Ở xa nghe thì rứa, chứ bọn em sống ở đây thấy cũng thường thôi. Mần răng nguy hiểm bằng các anh chạy xe trên đường, nỏ hầm hố chi cả lại có thể bị máy bay giặc đuổi bắn bất cứ lúc mô. Còn ở đây đúng là có ngày giặc ném xuống hàng trăm quả bom, bắn xuống hàng nghìn viên đạn. Hố bom sau chồng lên hố bom trước, khói đen che kín mặt trời. Nhiều lúc, ban ngày mà trời tối đen như ban đêm vậy. Rứa mà cứ đêm xuống bọn em lại ra mặt đường phá bom, san đường cho xe qua, hát hò cứ là thả cửa. Vui lắm! Chúng nó kéo đến đắnh phá thì hò nhau chui vô hầm. Chúng cút, lại lên mặt đường làm tiếp. Có chi mô anh!
- Thế…thế các cô không sợ chết à?
- Anh hỏi chi lạ rứa? Chết thì ai nỏ sợ! Ai nỏ mnuốn sống để được yêu nhau, được sinh con, đẻ cái, được hạnh phúc. Nhưng giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh chứ anh! Nếu có chết mà đuổi được giặc Mỹ đi, đất nước được hoà bình, độc lập, thống nhất, mọi người được yên ổn làm ăn, yên ổn lấy vợ, lấy chồng, thì có chi mà sợ!
Cô im lặng như đang nghĩ điều gì, rồi lại nhí nhảnh:
- Thật lòng cái sợ của bọn em nhất là trời mưa. Cả đêm phá bom, san đường, thông xe, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Bom nổ thì bụi đất tung toé lên cả đầu tóc, áo quần. Mãi 4 giờ sáng mới mò về đến nhà ( bọn em ở trong nhà dân, cách Ngã ba hai cây số). Lúc đó vừa đói, vừa mệt, tệ nhất là hai con mắt cứ díp lại. Rứa là mặc kệ, nỏ rửa ráy, tắm táp chi hết, lăn ra ngủ khì khì. Mặt trời chọc vô con mắt mới mò dậy đánh răng, rửa mặt, gội đầu, giặt giũ. Trời mà mưa, áo quần nỏ chịu khô cho, mặc vô người hôi sì sì. May mà chưa đứa mô có người yêu. Mà có con trai mô mà yêu! Bộ đội, lái xe các anh đi qua Đồng Lộc, ai cũng muốn vọt cho nhanh, hơi sức mô mà ngồi lại tán tỉnh nơi túi bom, túi đạn. Nói anh đừng cười, những lúc đó, nếu có người yêu, chắc bọn em cũng nỏ dám ngồi gần. Con gái, con lứa chi mà áo quần, tóc tai hôi hám rứa, xấu hổ chết!
Nghe cô nói, tôi thấy cổ mình nghèn nghẹn. Thế mà cô gái lại bật cười. Tiếng cười chi mà trong veo vẻo. Chợt cô nhổm dậy, nói như ra lệnh:
- Tắt đèn gầm đi anh! Đến Đồng Lộc rồi đó!
Cô chưa dứt lời đã có tiếng máy bay xẹt qua rồi chớp bom giần giật, nhoang nhoáng bốn phía cùng những tiếng nổ rền rĩ. Loạt bom vừa dứt, tôi nhìn ra ngoài. Trong ánh trăng lu, từng đoàn người đang lố nhố ra khỏi hầm. Tiếng gọi nhau, tiếng cười, tiếng hát đủ các thứ giọng ùa vào ca - bin. Chung quanh họ, những đốm lửa bom leo lét trong màn bụi đặc quánh. Xác xe cháy ngổn ngang. Có chiếc nằm chổng bốn bánh lên trời, lửa đang lem lém quanh mấy bánh cao su. Nhiều hố bom mới, màu đất đỏ bầm như máu. Nhiều hố bom đầy nước mưa, trông như những hốc mắt sâu hoắm ngước nhìn trời, rờn rợn. Thấy xe tôi qua, mấy cô chống xẻng cuốc, vẫy vẫy tay gọi í ới: “ Bố thằng cu ơi, mẹ nó đây cơ mà. Đến thơm cái mà đi cho khí thế mồ!”. Rồi thì là hò: “ Thương nhau đừng sợ…ơ… ơ) núi đèo/ Nước nhà còn.. ơ… giặc, thì khoan hãy hò ơ…trèo lên nhau…ơ…ơ!”. Rồi thì là cười, chao ôi là nắc nẻ! Trong khung cảnh hoang tàn, mùi khói bom khét lẹt, tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát hò làm tôi thấy nôn nao. Tôi quay sang cô gái: “ Vui quá cô nhỉ! Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao các cô chẳng sợ chết rồi!”. Cô gái chỉ mỉm cười: “Có chi mô anh!”. Khi tiếng cười, tiếng hò hát đã vọng đến từ phía sau xe, cô gái mới thở phào:
- Anh cho em xuống chỗ ni. Cảm ơn anh đã cho em đi nhờ…
Tôi luống cuống:
- Em…em xuống đây sao? Ta đã biết tên nhau đâu, để sau này nếu còn qua Đồng Lộc anh còn biết mà hỏi thăm em chứ. Tên anh là Quán, Phan Sĩ Quán, ở Đông Tác, Kim Liên, Hà Nội. Còn em…?
- Em là Hằng Nga quê Đức Thọ, Hà Tĩnh ni. Em ở đội 552, mọi người vẫn gọi là đại đội 2. Khi mô qua Đồng Lộc mời anh đến chơi. Chừ thì anh rẽ trái, đi thẳng theo đường 15 ni là đến eo Truông Kén. Qua đó, đi một thôi nữa là gặp đường Trường Sơn…!
Vừa mở cửa định xuống, cô bỗng đóng sầm ngay lại, quát: “Cho xe chạy nhanh lên anh! Chúng kéo đến thả đèn để đánh phá đấy!”. Tôi vội nhấn ga, chiếc xe chồm lên. Không gian ầm ĩ tiếng máy bay gầm rú. Đèn dù nổ lụp bụp, bật sáng như cháy cả bầu trời. Tôi phóng mắt về phía trước, thấy một đồi cây xanh thẫm dưới ánh đèn dù liền nhấn hết ga lao xe tới. Tiếng bom rít cheo chéo, ngậu xị trên đầu, rồi chớp lửa, chẳng phải chớp nữa mà là những bức tường lửa dựng lên chói loà. Buồng lái lắc mạnh, xô lệch, nẩy lên, dập xuống trong tiếng nổ và sóng xung kích của bom các cỡ. Đến ven đồi, tôi ngoặt tay lái chạy vòng vèo, luồn lách qua những bụi sim, mua, những gốc cây um tùm lá. Lũ giặc lái mất mục tiêu, bắt đầu quần đảo, xả đạn xuống đồi. Hằng Nga mở toang cửa buồng lái, nắm tay kéo tôi nhảy khỏi xe, chạy tới một con suối cạn gần đó. Bỗng một ánh chớp xanh lét nhoáng lên hất tôi và Hằng Nga ngã dúi xuống. Tôi thấy đau nhói ở bụng. Sờ tay xuống, thì ra một mảnh rốc-két đã chém đứt da bụng tôi và một đoạn ruột đang trào ra từ vết thương. Hằng Nga quỳ xuống đỡ lấy tôi. Tiếng cô bình tĩnh lạ lùng: “ Anh cứ bịt chặt lấy vết thương, đừng cho ruột lòi ra thêm nữa. Trường hợp ni nếu có cái bát úp vô mà băng thì tốt. Nhưng anh đừng lo, em đã có cách!”
Nói rồi, cô vội vàng cởi chiếc áo màu cỏ úa đang mặc trên mình. Tôi chưa kịp hiểu cô định làm gì thì Hằng Nga đã giật đứt cúc chiếc áo nịt ngực ( hồi đó cánh thanh niên Hà Nội chúng tôi gọi là xu-chiêng. Thứ áo lót này không mềm mại như bây giờ mà được chần rất kỹ, “nhọn hoắt như kim tự tháp” và cứng như mo cau ). Dù đang bị thương, tôi cũng choáng váng trước hành động đột ngột của cô và càng choáng hơn khi dưới ánh trăng, cộng thêm ánh đèn dù và ánh lửa, có lẽ từ một chiếc xe trúng bom đang cháy từ ngã ba hắt đến, một bức tượng bán thân bằng da, bằng thịt lồ lộ ngay trước mắt. Đường eo thon mềm như một nét vẽ. Hai bầu vú trinh trắng tròn trĩnh, nõn nà như mà sứ. Chẳng hiểu vì vết thương quá đau hay vì thân hình con gái gần đến nỗi mùi hương lạ lẫm, mơn man đến nghẹt thở, tôi rên lên một tiếng. Nghe thế, Hằng Nga cúi xuống, dỗ dành như một người chị: “ Anh đừng rên mà em nóng ruột. Cố gắng một chút để em băng cho, không máu ra nhiều thì nguy anh ạ!” Dường như sợ tôi mất nhiều máu, Hằng Nga không kịp mặc áo, vội chụp xu-chiêng vào vết thương của tôi, nơi ruột trào ra. Bằng một động tác thuần thục, cô tựa tôi vào gốc cây rồi dùng băng cá nhân băng chặt bên ngoài. Cứ mỗi lần nhoài người để đưa tay quấn băng qua bụng tôi, cặp vú trắng ngần, tròn căng, nồng ấm của cô lại ép vào mặt, vào ngực tôi cùng với một mùi thơm thật khó tả. Chưa một lần đụng chạm với da thịt người con gái sát nhau đến thế, tôi run bắn lên. Nhưng cái cảm giác đó của tôi chỉ là thoáng chốc. Bởi bị ra nhiều máu quá, tôi ngất lịm đi…!
Ông ngừng kể, rủ tôi đứng dậy thả bộ dọc con đường trải nhựa trước khu tưởng niệm. Trời trở chiều. Những làn khói tím ngan ngát không biết là khói hương hay sương mù từ hốc núi nào lãng đãng bay ra vương vít từng ngôi mộ 10 cô gái. Ông bỗng quay sang tôi:
- Thế mà mãi tháng 4 năm 1995, cánh lính đoàn vận tải quân sự Tổng cục Hậu cần chúng tôi rủ nhau về chiến trường xưa, thăm lại miền ký ức của mình, tôi mới có dịp về Đồng Lộc. Bởi sau đận đó, tôi được đưa ra Bắc chữa lành vết thương rồi cùng đơn vị hành quân vào chiến trường Tây Nguyên. Hoạt động ở đó mấy năm ròng rồi cùng nhau tiến về Sài Gòn. Đất nước thống nhất, tôi ra quân. Tôi không thể quên Hằng Nga, nhưng bảo là luôn nhớ thì chẳng phải. Những tưởng hết chiến tranh rồi, chẳng phải nghĩ ngợi, lo lắng gì nữa, tha hồ có thời gian mà đi tìm nhau. Ai dè giữa đời thường cơm áo, lại phải toan tính, phải bươn chải, có khi còn nhọc nhằn hơn cả thời bom đạn. Nên suốt 27 năm trời tôi vẫn sống đó, vẫn hít thở khí trời đó, mà đâu có về được Đồng Lộc để tìm Hằng Nga. Thế mà lạ lắm, anh ạ. Khi tôi đến cắm nén hương lên từng ngôi mộ, nén hương của gần 30 năm quên lãng và ân hận, lòng tôi bỗng dưng hẫng hụt. Dẫu rằng các cô gái liệt sĩ trẻ trung trong ảnh chẳng ai nhìn tôi bằng ánh mắt trách móc cả. Tôi mang cảm giác ấy về Hà Nội. Và đêm đó, Hằng Nga “ về ” anh ạ! Trong bộ áo quần thanh niên xung phong, em ngồi giữa một vầng mây trắng, sau lưng lồng lộng một vầng trăng, mỉm cười nhìn tôi y hệt cái lúc em ngồi trong ca-bin chỉ đường cho xe tôi đi. Tự dưng tôi linh cảm có lẽ Hằng Nga là một trong 10 liệt nữ anh hùng ngã xuống chiều 24 tháng 7 năm 1968 oan nghiệt ấy!
- Nhưng…nhưng trong 10 liệt sĩ Đồng Lộc, đâu có ai tên là Hằng Nga?
- Đúng vậy! – Ông đăm chiêu – Làm người lính lái xe, dọc đường tôi gặp gỡ với bao cô gái, tôi biết thường thì khi gặp ai là con trai lần đầu, các cô không hay nói tên thật của mình. Với lại trong câu chuyện trên xe đêm ấy, đôi lúc em ví Ngã ba Đồng Lộc lúc đó hố bom lỗ chỗ như đất mặt trăng, có người còn gọi là “ Ngã ba mặt trăng”. Có thể em gọi mình là Hằng Nga để ví von vui mình ở mặt trăng xuống. Mà thôi anh ạ, dù mang tên gì em cũng là ân nhân của tôi, em vẫn có cái tên chung là cô gái thanh niên xung phong anh hùng Ngã ba Đồng Lộc. Và nói gì thì nói, tôi là kẻ có lỗi, không chỉ với em mà với tất cả những ai đã ngã xuống nơi Ngã ba này. Nhiều năm nay, lòng tôi không nguôi day dứt, nên hễ có dịp, hễ trong lòng chợt bồn chồn, trống vắng, tôi lại tìm về Đồng Lộc thắp nén hương lòng, những mong nguôi được nỗi niềm…!
Tôi bước gần lại, đưa tay nắm chặt bàn tay rắn rỏi của người bạn mới gặp. Tôi muốn nói với ông rằng: Ngày ấy các cô gái thanh niên xung phong Đồng Lộc đã thanh thản bước vào cuộc chiến đấu sinh tử với kẻ thù, đã thanh thản ngã xuống cho khát vọng nước nhà thống nhất, hoà bình, độc lập, tự do. Rằng các cô đã dám hy sinh cả tuổi thanh xuân, cả hạnh phúc, cá cuộc đời mình thì Hằng Nga bằng việc làm của con tim, dám khoả trần để cứu tính mạng một người lính trong lúc hiểm nghèo, với cô cũng chỉ là là một việc làm bình thường “ có chi mô!”. Rằng…nhưng nhìn ánh mắt đầy ăn năn của ông, bỗng dưng tôi thấy mình chẳng đủ lời…!
Đồng Lộc 15 - 7 - 2007
Xuân Đan 30 - 4 – 2008
N . X . D