15-03-2015 - 00:49

Tác giả Võ Hồng Hải

Tác giả Võ Hồng Hải, sinh ngày 01 – 05 – 1964, tại xã Thịnh Lộc, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh. Hiện là Bí thư Huyện ủy Can Lộc. Hội viên chuyên ngành Thơ.


Tác giả Võ Hồng Hải
 
               Bút danh: Hồng Hải, Hải Đài, Võ Hải
            Sinh ngày 01 – 05 – 1964
            Nơi sinh: Xã Thịnh Lộc, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh
            Trú quán: Số nhà 284, đường Nguyễn Du, khối phố 1, phường Nguyễn Du, TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
            Chức vụ, cơ quan công tác: Bí thư Huyện ủy Can Lộc, Hà Tĩnh
          Trình độ học vấn, chuyên môn: Tiến sĩ Văn hóa học
            Năm vào Hội: 2004                Chuyên ngành: Thơ
            Ngày vào Đảng: 15/4/1992
            Điện thoại: NR: 0393855729; DĐ: 0913294039
            Email: vohonghai_ht@yahoo.com
            Tác phẩm đã công bố: Tập thơ: Gió một thời trai, NXB Văn học, 2005; nhiều bài thơ, ghi chép, tản văn, nghiên cứu phê bình… đăng trong các sách, báo xuất bản ở TW và địa phương;                   sắp xuất bản sách chuyên khảo: Di sản văn hóa dòng họ.
            Tác phẩm tự chọn: Huyền thoại một miền quê, thơ (2011), Trước biển tuổi 50, thơ (2013), Ví, Giặm – hành trình từ thổ sản vùng miền đến di sản văn hóa nhân loại, nghiên cứu (2014).

Tác phẩm tự chọn:

Huyền thoại một miền quê
 
Nơi Rồng chọn ngâm mình
Tiên rủ nhau về tắm
Rú Bơờng, rú Bể, rú Bin…
Một thời cuối Sót – đầu Mênh*
Một thời Đò Điệm oằn mình sang ngang
 
Ai trồng trúc Tiên Am
Để đá dựng ngóng bóng hình xa xứ
Ba Xã có cây Da Dù**
Người qua chợ Huyện chợ Lù tìm nhau…
 
Mồ hôi mẹ nuôi con kết gò muối mặn
Dẫu li hương, xưng đế vẫn vẹn thề
Ai ra Sài Sơn, ai về Hộ Độ***
Anh hùng, tài tử xứng danh quê…
 
Nơi biển phải lùi, nước vơi thành Cửa Sót
Cánh chim Bằng vật vã một đời trai****
Đồng Tử, Tiên Dung hóa thân thành huyền thoại
Anh lỗi hẹn Lộc Nguyên, Phù Lưu đón em về!
 
Chốn này, là thực hay mê
Ta như con sóng đôi quê bạc đầu…
 
Chú thích: * Địa giới xưa của huyện Can Lộc léo dài từ đầu sông Minh Lương (sông Mênh) đến cửa Sót (Thạch Kim).
** Ở núi Tiên Am (xã Thịnh Lộc) có đá Ông, đá Bà đứng cạnh nhau, đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh; ở xã Ích Hậu (trước gọi là Ba Xã) có một cây da lớn, gọi là Da Dù.
*** Mai Hắc Đế quê gốc làng Mai Phụ (gò họ Mai); họ Phan Huy có một nhánh di cư đến vùng Sài Sơn, Hà Nội.
**** Nguyễn Hữu Chỉnh (?-1787) lấy tên núi Côn Bằng (Rú Bơờng) làm tước danh Bằng Trung công, được mệnh danh là “Anh hùng thời loạn”.
 
 
 
Trước biển, tuổi 50
 
Ai bảo Ngũ thập tri thiên mệnh
Hơn nửa đời
                        trời đất vẫn mênh mênh
Ta vẫn trống trênh trong cõi người cô quạnh
Mây trắng vờn đầu, ánh mắt có còn xanh?
 
Hơn nửa đời trôi, phía trước vẫn mong manh
Ta sẽ sống như ta từng đã sống?
Như muôn sóng trong những chiều biển động
Gầm gào, hối hả, vỡ òa…
 
Về với bến bờ hay khao khát trời xa
Trùng khơi ơi sao người hoài dâng sóng
Sao chẳng dành ta một bờ bến lạ
Một lâu đài
           nguyên vẹn cát
                                                    trắng trong!
 
Người đến rồi đi
                                          tuổi 50 ai còn nhóm lửa lòng
Còn khắc khoải với mưa nguồn, chớp bể
Còng gió ơi, thôi tìm chi những điều không thể
Đã nửa đời xe cát
Biển vẫn trầm tư muôn lớp sóng bạc đầu…
 
Cuộc đời
                             bãi biển
                                        nương dâu
Ta như hạt cát
                                        dãi dầu
                                                      nắng mưa…
 
 
 
Ví, Giặm - hành trình từ thổ sản vùng miền
đến di sản văn hóa nhân loại
 
            Khi nhận xét về xứ Nghệ, sách Đại Nam nhất thống chí viết: Đất xấu, dân nghèo, tập tục cần kiệm, nhà nông chăm chỉ ruộng nương, học trò ưa chuộng học hành… Đó cũng là vùng đất đã tác thành ra bao lớp hiền nhân, là cái nôi sản sinh, trao truyền cả một kho tàng văn hóa dân gian phong phú, trong đó có dân ca xứ Nghệ, mà 2 "thổ sản" độc đáo nhất là Hát Ví và Hát Giặm.
 
Cội nguồn hình thành và câu chuyện “Dặm” hay “Giặm”
            Cũng như các loại hình dân ca khác, ví - giặm bắt nguồn từ đời sống xã hội, do nhu cầu sinh hoạt tinh thần của nhân dân trong lao động cũng như lúc rảnh rỗi, vui chơi. Nó là một phương tiện văn nghệ tự túc của nhân dân địa phương, hòa vào dòng chảy văn hóa chung của dân tộc. Từ đời Tấn (265-120 TCN), trong sách Giao Châu kí, Lưu Hán ghi rằng nông thôn thời bấy giờ trẻ mục đồng cưỡi trâu, thổi sáo và hát các bài đồng dao của người Việt; còn trong sách Thuyết uyển (năm 16 TCN), Lưu Hướng có ghi lại một bài ca của người Việt hát trong lúc chèo đò và gọi đó là Việt ca… Ví, Giặm người Nghệ cũng có thể đã có một lịch sử hình thành từ lâu đời nhưng phải đến thế kỉ XVII - XVIII mới đủ lông đủ cánh, hình thành ra những cuộc hát với thủ tục, lề lối chặt chẽ như nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất nhận định.
            Cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc khái niệm, nhưng khá đồng thuận nhất, người ta vẫn cho rằng Ví xuất phát từ "ví von" (Thân em như hạt mưa sa/ Hạt rơi xuống giếng hạt ra ngoài đồng); hoặc "với" - bên nam hát đối đáp bên nữ; hoặc "vói" - hai bên trong nhà, ngoài ngõ đối đáp nhau. Còn Giặm được hiểu với nghĩa gần như là giắm thêm vào (viết khác với chữ Dặm, dân ca của một số địa phương khác - dặm là quãng, quãng đường); trong một bài Giặm, người ta thường xen vào những câu láy lại (hiện tượng điệp câu); hoặc trong lúc hát đối đáp, chữ vần của câu đầu bài đáp phải chắp cùng với vần câu cuối bài hỏi - chắp vần, hay hát chắp vào tức là hát giặm…
            Ví, Giặm lúc mới ra đời có thể chỉ là những câu hát riêng của chị em trong lúc lao động một mình, về sau có sự tham gia của các chàng trai, câu hát càng trở nên tình tứ, uyển chuyển, dịu dàng hơn. Đặc biệt, từ khi có các nho sĩ và trí thức bình dân tham gia, câu hát đã có thêm chất trí tuệ, uyên thâm, ví dụ như: Đã có rêu bởi vì nước đứng/ Núi bạc đầu bởi tại sương sa/ Thấy anh, em muốn gieo ca/ Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời/ Thấy anh, em muốn trao lời/ Sợ chòm mây bạc giữa trời mau tan…
            Ví, Giặm không chỉ hát đơn lẻ mà đã trở thành quy cách và thủ tục. Hát Ví thường có 7 bước, 3 chặng, tiêu biểu nhất là ở hát ví Phường Vải; tuy nhiên không phải loại ví nào cũng tuân thủ đầy đủ quy cách này. Còn hát Dặm cũng thường có 3 bước cơ bản (hát dạo, hát đối và hát xe kết), tuy nhiên quy cách đơn giản hơn nhiều so với Ví.
            Từ Hoành Sơn ra tận Khe Nước Lạnh, hầu như vùng nào trên đất xứ Nghệ cũng đều có những làng, những người nổi tiếng với hát Ví, hát Giặm; sách sử cũng không thấy ghi chép cụ thể Ví bắt nguồn từ vùng nào trước, Giặm tồn tại ban đầu ở đâu… Tuy nhiên, theo nhiều cuộc điều tra, điền dã, gần đây có một số nhà nghiên cứu đã nêu ra giả thuyết khá thuyết phục. Trong hát ví thì Vì đò đưa có lẽ ra đời sớm nhất và ở vùng sông Lam, Đô Lương, nơi thuyền bè tấp nập lên xuống chợ Cồn, chợ Rạng, chợ Lạng, chợ Lường: Muốn ăn khoai sọ chấm đường/Thì trốn cha trốn mẹ ngược Lường với anh… Phải chăng cũng như một cơ duyên mà sau này Nguyễn Trung Phong - nguyên cán bộ quản lí ngành Văn hóa Nghệ Tĩnh đã sáng tác bài dân ca "Giận mà thương" nổi tiếng đến mức làm nhiều người nhầm tưởng đây là một trong những bài dân ca gốc: Vì thương anh nên em bàn với mẹ/ Phải ngăn anh đi chuyến ngược Lường… Còn Giặm với những câu hát ngắn (Đất Đồng Môn dệt vải/ Đất Cổ Đạm vắt nồi/ Đất Xuân Liễu bầy tui (tôi)/ Bắt một nạm cáy hôi/ Về đâm đâm phơi phơi…), giọng trầm, chắc, đều đều, lời nôm na, mộc mạc, dùng thổ ngữ nhiều hơn, sinh ra nơi đồng đất hẻo lánh, có thể gốc là vùng bắc Cẩm Xuyên - Thạch Hà - nam Can Lộc…
 
Độc đáo riêng có của Ví, Giặm Nghệ Tĩnh
            1. Không như một số loại hình dân ca khác gắn chặt với một không gian, thời điểm diễn xướng, nhất là với các lễ hội, dân ca Nghệ Tĩnh nói chung và Ví, Giặm nói riêng được người Nghệ hát ra không kể thời gian, hầu như quanh năm suốt tháng. Trên đồng ruộng, giữa lúc nông vụ tất bật - nhổ mạ, cấy cày, gặt hái; trên rừng trong những chuyến đi củi, đốt than, hái măng; trên sông Lam, sông La khi thuyền xuôi ngược hoặc chèo buông; trong những đêm trăng sáng hoặc lúc tối trời tại nhiều thôn xóm… tiếng hát ví, hát giặm luôn cất lên khi nhẹ nhàng tha thiết, khi trầm hùng sâu lắng, khi man mác buồn thương, khi thì hóm hỉnh, cười cợt…
            2. Một điều đặc biệt là sự tham gia tích cực của tầng lớp trí thức, từ các nhà khoa bảng, trứ tác lừng danh (Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Quýnh, Đinh Viết Thận, Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý…) cho đến lớp nho sĩ, trí thức bình dân. Đại thi hào Nguyễn Du từng nổi tiếng với lời đối đáp gái Phường vải Trường Lưu khi đến trước sân nhà không may bị vấp ngã:
                        Đến đây hò hát làm thân
                        Cúi đầu bái lạy trước sân làm gì?
                        - Đất chi có đất lạ lùng
                        Đứng thì không chịu, nằm cùng lại cho…
            Hoặc Phan Bội Châu đối đáp với gái Phường vải Nam Đàn:
                        Đưa chàng một nạm (nắm) ngô rang
                        Đúc nơi mô mà mọc, thiếp đốt nhang mời về
                        - Chỗ nào nắng mãi không khô
                        Mưa lâu không ướt đúc vô mọc liền…
            3. Về mặt ca từ, đây cũng là nơi lưu giữ vốn ngôn ngữ khá phong phú cả phương ngữ và từ nghĩa, hiếm có dân ca vùng miền nào sánh được.
            4. Ví, Giặm là lối hát ứng tác - ứng khẩu mà thành thơ, thành nhạc. Thơ của Ví là thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể; Giặm thường là thể thơ 4 hoặc 5 chữ, thể đặc trưng của dân tộc. Những cuộc đối đáp ví, giặm đã góp phần để lại cho văn học nước nhà một kho tàng phong phú những câu thơ độc đáo, sâu sắc về nội dung, điêu luyện về nghệ thuật…
            Với nền âm nhạc hiện đại, dân ca ví, giặm đã minh chứng khả năng thích ứng cao khi làm chất liệu cho sáng tác ca khúc. Nhiều ca khúc đã được thăng hoa, làm xúc động biết bao con tim của các thế hệ, trở thành những bài ca đi cùng năm tháng nhờ khai thác chất liệu dân ca xứ Nghệ như Xa Khơi (Nguyễn Tài Tuệ), Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh (Nguyễn Văn Tý), Vỗ bến Lam chiều (Trần Hoàn), Hà Tĩnh mình thương (An Thuyên), Khúc hát sông quê (Nguyễn Trọng Tạo)… Nói về đặc trưng âm nhạc của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, trong một lần trả lời phỏng vấn Tạp chí Văn hóa Nghệ An, nhạc sĩ An Thuyên cho rằng có 2 đặc điểm chính - một là nỗi buồn đến "tận đáy", hai là dân ca có lời ca hay nhất.
            5. Dân ca ví, giặm không chỉ là phương tiện làm vơi bớt nỗi mệt nhọc, phương tiện vui chơi giải trí, nơi thổ lộ tâm tình của người dân xứ Nghệ, nó còn là phương tiện tuyên truyền có thể giáo huấn, biểu dương, phê phán, là mạch nguồn nuôi dưỡng những bậc nho sĩ tài hoa…
 
Khi thổ sản vùng miền trở thành di sản văn hóa nhân loại
            Cuối năm 2012, dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã chính thức được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Năm 2013, hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An đã phối hợp với các cơ quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO xét công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Và vào ngày 27/11/2014, tại kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO, Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã chính thức được vinh danh, trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại…
            Qua tiếp xúc, trao đổi với nhiều người quan tâm và trực tiếp thực hành ví, giặm, qua trải nghiệm thực tiễn trong thời gian làm quản lí ngành văn hóa ở địa bàn một tỉnh, theo chúng tôi hiện loại hình dân ca độc đáo này đang đứng trước một số thách thức/khó khăn chủ yếu sau:
            (1) Sự biến đổi khá cơ bản về không gian và bối cảnh sáng tạo, diễn xướng do quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, của các địa phương (về cảnh quan, nghề nghiệp, công cụ/phương tiện sản xuất, sinh hoạt…);
            (2) Sự biến đổi về nhu cầu, thị hiếu và phương tiện hưởng thụ, tiếp nhận nghệ thuật của người dân trong từng thời kì lịch sử, nhất là trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của các công nghệ, kỹ thuật hiện đại như ngày nay (cạnh tranh giữa các loại hình nghệ thuật; xuất hiện nhiều xu hướng nghệ thuật mới…);
            (3) Đội ngũ nghệ nhân, diễn viên chuyên nghiệp và quần chúng thưa vắng dần, khả năng lưu giữ vốn cổ/nguyên gốc và kỹ năng trao truyền, diễn xướng/trình diễn bị thách thức;
            (4) Quan điểm, phương pháp và hệ thống chính sách để bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể (vốn có tính đặc thù cao) chưa đồng bộ, hoàn thiện; sự vận dụng cụ thể vào từng loại hình, từng địa phương và việc triển khai trong thực tiễn lại khác nhau.
            Nhiều vấn đề liên quan đến quan điểm bảo tồn, phát huy chưa được nghiên cứu, xử lí thống nhất, như: “có nên sân khấu hóa dân ca không?”, “có khuyến khích việc sáng tác, đặt lời mới không?” v.v…
            Trước những thách thức chung cho việc bảo tồn, phát huy dân ca Nghệ Tĩnh nói chung, trong đó có Ví, Giặm, Hà Tĩnh và Nghệ An đã làm gì trong thời gian qua? Có thể kể đến 6 hoạt động chính:
            (1) Công tác sưu tầm, nghiên cứu;
(2) Công tác tuyên truyền, quảng bá, xuất bản;
(3) Vinh danh nghệ nhân, hỗ trợ thành lập các Câu lạc bộ dân ca;
(4) Tổ chức các liên hoan, hội thi, hội diễn, trại sáng tác;
(5) Thí điểm đưa dân ca vào trường học và dạy đàn hát dân ca trên các phương tiện truyền thông đại chúng;
(6) Điều tra, lập hồ sơ khoa học trình công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và trình UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại…
 
Ví, giặm thực sự là di sản văn hóa mang đậm bản sắc của người Nghệ, xứ Nghệ, thể hiện trên hầu hết các phương diện như âm nhạc, diễn xướng dân gian, ca từ, thời gian, không gian văn hóa, đối tượng tham gia… Bản sắc đó đã trở thành truyền thống, được trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng sức sống mãnh liệt, khả năng tái tạo, thích ứng cao trong mọi sinh hoạt âm nhạc cộng đồng như văn nghệ quần chúng (đặt lời mới), sân khấu kịch hát, ca khúc sử dụng chất liệu dân ca… Với mỗi thời đại, nhân dân xứ Nghệ đều có sự tái tạo để ví, giặm luôn thích ứng với môi trường và điều kiện lịch sử - xã hội của từng giai đoạn. Cùng với các loại hình dân ca khác, Ví, Giặm là tinh hoa nghệ thuật của xứ Nghệ nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung, góp phần quan trọng vào việc lưu giữ vốn văn hóa truyền thống của cha ông, làm cho đời sống tinh thần của người Việt thêm phong phú, đa dạng.
            Sự ra đời, hoạt động mạnh mẽ của gần 100 câu lạc dân ca ở cả hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay, sự thành công của Liên hoan Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ lần thứ Nhất trong năm 2012, lần thứ 2 năm 2013… là những minh chứng sống động khẳng định giá trị trường tồn và sức thu hút, lan tỏa, thăng hoa của "đặc sản" văn hóa Ví, Giặm Nghệ Tĩnh./.
. . . . .
Loading the player...