13-05-2016 - 15:47

Trước bao nỗi nhân gian

Bấy giờ và mãi sau này trong tâm trí tôi, nhà thơ Xuân Hoài đang ở kề bên, ông không đi đâu cả, ông vẫn ở lại với nhiều người và đang kể với các thế hệ về bao nỗi nhân gian …( Nhà văn Đức Ban)


                           TRƯỚC BAO NỖI NHÂN GIAN
                                                   Đức Ban  
                        ( Viết về chân dung nhà thơ Xuân Hoài)             
     Sau ngày Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, nhà thơ Nguyễn Quốc Anh và nhà văn Chính Tâm đạp xe đạp cọc cạch ra Tổng đội TNXP 299. P18 xin cho tôi chuyển công tác về  Hội Văn nghệ Hà Tĩnh. Ba lần như vậy, ông Tổng đội trưởng mới gật đầu. Thật ra ông chẳng giữ tôi lại làm gì nữa. Đơn vị TNXP sắp giải thể. Hàng ngàn con người rơi rớt gần hết tuổi thanh xuân ở chiến trường bỗng bị ném vào những ngã ba, ngã năm, ngã bảy mù mịt. Đi đâu ? Về đâu?. Cái may mắn của tôi là không phải đứng trước các ngả rẽ để chọn lựa. Tôi nhớ người đón tôi ở ngôi nhà lợp tranh tro lọt thỏm giữa lùm cây um tùm ngoài rìa Thị xã là một người đàn ông nhỏ thó, trắng trẻo có đôi mắt sâu, sáng. Ông bảo ông là Xuân Hoài vừa chuyển từ Giáo dục sang Văn nghệ. Nói xong thì kéo tôi sang phòng khách và tự mình pha trà. Gọi phòng khách chứ thực ra chỉ một gian nhà ba phia thưng phên nứa, một phía nhìn ra cái sân đất lồi lõm đọng nước. Bộ bàn ghế gỗ mộc nứt ngang, nứt dọc. Riêng bộ ấm chén thì trắng bóc, loáng như gương. Ông cho chè ra mảnh giấy báo hình vuông, rồi khum mảnh giấy cho chè rơi từ từ vào ấm. Rất chậm, ông nâng phích nước sôi lên đặt nhẹ xuống bàn rồi dùng những ngón tay hơi gầy, trắng xanh nhẹ nhàng vặn nắp phích…
     Xuân Hoài sinh ngày 15 tháng 5 năm 1941 trong một gia đình thanh bần, hiếu học ở Thị trấn Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm, ông về dạy Toán tại trường cấp 3 Đức Thọ. Thời ấy ông là nhân vật lý tưởng của nhiều Thanh niên. Dạy giỏi, lịch lãm và còn làm thơ. Bạn bè thì toàn nhà thơ, nhà văn đủ các lứa tuổi, ở nhiều vùng miền. Và là những người nổi tiếng: Nghiêm Đa Văn, Vũ Duy Thông, Trần Quốc Anh, Lê Duy Phương, Hà Quảng, Lê Xuân Zụ, Trần Hậu Tân, Nguyễn Quốc Anh, Chính Tâm, Duy Thảo…Không ngờ cái sự nổi tiếng cùng những nỗi phiền muộn, những khoảnh khắc trống vắng, những se sắt của cô đơn mà họ chân thật giãi bày bằng con chữ lại thành cái họa. “Một bọn lãng mạn, tiểu tư sản” – Người ta nói thế. Rồi ông bị kỷ luật phải chuyển về dạy ở Cẩm Xuyên. Sau này khi thân thiết nhau ông nói, cuộc đời nhốn nháo này “ Những ai không biết khóc/ Đừng mong chi họ cười”và rằng, cái may, cái rủi thường lẫn vào nhau. Trong may có rủi, trong rủi có may. Tôi mà không bị kỷ luật, cứ một giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh thì chưa hẳn có những bài thơ được bạn đọc nhớ. Làm thơ được bạn đọc nhớ là hạnh phúc lắm. May mắn nhất là về Cẩm Xuyên tôi  gặp được cô nữ sinh Nguyễn Thị Thước để rồi thành vợ chồng, để rồi người con gái nết na ấy bù đắp mọi cái thiếu hụt của tôi. 

Nhà thơ Xuân Hoài ( đứng đầu cùng bên trái, hàng đầu tiên) với nhà thơ Huy Cận, lãnh đạo tỉnh và các văn nghệ sĩ tỉnh Nghệ Tĩnh
       Tôi hiểu ra sự thiếu hụt ông nói ấy. Đó là sự thiếu hụt trong trong đam mê, say đắm, trong khát vọng sáng tạo ngôn ngữ thi ca, những thứ thiếu hụt của ai nấy biết. Có người không hiểu ra điều này, có người cố tình không hiểu để cho cái mặc cảm về một khoảng cách xã hội nào đó cứ đẩy ông về một phía: Phía quan chức. Hồi mới nhập tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, năm 1976, ông đã là Phó Hội trưởng kiêm Tổng thư ký. Mấy năm sau thì trúng Tỉnh ủy viên… Thuở ấy, tôi đã từng ngồi cùng ông trong căn phòng xập xệ chưa đầy 15 mét vuông của khu tập thể Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh. Căn phòng vợ chồng ông, một cô con gái, hai cậu con trai và bà mẹ ông, chênh vênh bên mép hồ Thành Vinh.Tôi cũng đã từng chứng kiến ông chở những bì mùn cưa trên chiếc xe đạp cũ kỹ về căn hộ chật chội ở Khu chung cư Quang Trung để cho vợ nấu nướng. Rồi khi tách tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ông lại trúng Tỉnh ủy viên, trúng thêm Hội đồng nhân dân Tỉnh, giữ chức Chủ tịch Hội Văn nghệ kiêm Tổng biên tập Tạp chí Hồng Lĩnh.  Mấy năm sau nữa làm Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin. Với những chức danh ấy, ông có đầy quyền uy. Bao kẻ có quyền uy đã gắn quyền uy với quyền lợi để rồi cái bản năng tham, sân, si che mờ mắt nhìn, nhuộm màu đen lên tâm hồn lương thiện. Xuân Hoài không thế. Phẩm chất thi sỹ đã níu giữ ông trước các cám dỗ, chống lại những thế lực thù địch của lòng tử tế, tình thương yêu bằng sự trong sạch của một quan chức và sức mạnh ngôn ngữ thi ca. Ôi, nếu người khác nắm được một phần ba chức quyền của ông thì ít nhất họ đủ sức xây biệt thự, sắm ô tô. Nhưng ông vẫn ở trong căn nhà nhỏ chật chội cạnh đường phố ồn ào, bụi bặm và thiếu thốn nhiều thứ. Bản chất thi sỹ đã khiến ông không ít khi ngơ ngác trước mọi sự nhốn nháo của cuộc đời. Tôi hình dung một Xuân Hoài thổn thức, day dứt, run rẩy trước mỗi con người, mỗi sự việc và một Xuân Hoài nghiêm cẩn, rành mạch trước đám đông nơi công sở. Hai con người trong một con người ư? Tôi không nghĩ vậy. Bởi, những phẩm tính ấy không mâu thuẫn đối kháng mà đều xuất phát từ nhân văn. 10 năm từ 1961 đến 1971, chỉ dạy học và làm thơ, còn từ năm 1972  đến năm 2001, ba mươi năm Xuân Hoài làm quan và làm thơ. Những câu thơ ra đời từ nhiệt tình, từ dụng công “làm tư tưởng” không giấu nổi: “Ở trường này ai trẻ nhất giáo viên/ Thầy hiệu trưởng giới thiệu tôi ra chào Thủ tướng/ Ngót ba chục năm rồi cái hôn- phần thưởng/ Kỷ niệm nhắc hoài xứng đáng buổi đầu tiên “ (Kính tặng bác Phạm Văn Đồng) và “ Núi Hồng và sông Lam / Để muôn đời sừng sững? Núi cao cho dáng đứng/ Sông dài cho bước đi “,với: “Đã bao giờ quê ta hồ hởi thế/ Cánh tay lo năm tấn mỗi hét ta…” xen vào những câu thơ “lộ” tâm hồn Xuân Hoài, một tâm hồn đa cảm với những dày vò, tự vấn, trống rỗng, cô đơn, tin tưởng, thất vọng và chua chát. Tôi hình dung ông bước ra khỏi chốn công đường, đứng lại, đăm đăm nhìn bốn phía chung quanh:“ Trước bao tỉnh cảnh trên đời/ Hư hay thực cũng rụng rời trái tim”.Để rồi trái tim yếu mềm phải nấc nghẹn:“Rượu hết chai còn lại khổ đau”. Đêm khuya khoắt, một mình ông ngồi trước màn hình ti vi, lắng nghe tiếng mưa rả rich ngoài trời và tiếng nhắn tin tìm người lạc:“ Nếu bố mẹ còn  sống…/Nếu anh chị còn sống…/Nếu các em còn sống…  Biết ai người của máu thịt cắt chia/ Nhà cửa giàu sang hay lang thang đói rách/ Dẫu là ai cũng phải rơi nước mắt/ Người tìm người phiêu bạt giữa thế gian”.  Đấy là Xuân Hoài, nhưng chưa phải là mọi phía Xuân Hoài. Bao trùm lên tất cả là sự đằm thắm, thiết tha, là những run rẩy trước cái lúm đồng tiền của một cô gái: “Còn không hai lúm đồng tiền/ Để thương để nhớ để phiền cho nhau”; trước hương thơm quấn quýt của chùm hoa dẻ “giấu trong lùm không dễ thấy/ Hương thơm bay khó định hướng nơi nào”; trước nhành cỏ may phơ phất bên bờ đê chiều cuối năm  lây phây mưa đã thành hoài niệm: “ Cỏ may mọc ở bờ đê/ Ngoài năm mươi tuổi lối về còn vương”…trước dòng sông lặng lẽ trôi:“Đời người như nước chảy đi/ Đã ra sông rộng, vấn chi đầu nguồn” .Cái làm nên Xuân Hoài trong tâm trí nhiều người là những con chữ giản dị, tinh tế, run rẩy trước thân phận con người.  

Nhà văn Đức Ban, nhà thơ Xuân Hoài, kịch tác gia Phan Lương Hảo, Nhạc sĩ Vi Phong ( từ phải qua trái)
tại Lễ đón nhận Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam
     Đối với một thi sỹ, không bao giờ nói được là đã thành đạt, đã thỏa mãn với những tác phẩm của mình. Càng nhiều tuổi, thêm sự trải biết, tư duy càng sâu, rộng, anh ta càng thấy cái trách nhiệm dâng hiến của mình nặng nề hơn; thậm chí bị dằn vặt, đớn đau thường xuyên hơn bởi cảm giác bất lực trước con chữ. Ngoài nỗi khổ như nghiệp chướng kia, Xuân Hoài còn gảnh thêm cái gánh nặng của bệnh tật. Ông lâm bệnh lúc chưa tròn 60 tuổi. Sẽ chỉ thấy một Xuân Hoài ốm đau để rồi đồng cảm, sẻ chia và khâm phục ý chí, nghị lực của ông từ một ánh mắt, một nụ cười, một cái bắt tay mà không biết được những tình cảm sâu thẳm, những suy tưởng của ông tọa ở đâu. Những câu thơ ông viết trên giường bệnh mới cho ta thấy rõ ra một cách chân thực ông đang sống như thế nào. Tôi tin, người từng quen biết một Xuân Hoài sẽ rưng rưng khi đọc: “Viết thư tay không cầm được bút/ Điện thoại nói chẳng nên lời/ Lối đi quen trở thành mất hút/ Lâu rồi, nhớ lắm bạn bè ơi.”, sẽ nhói đau trong lòng khi nghe ông thiết tha: “ Bạn bè từ bao thủơ ? Bỗng dưng thành xa xôi/ Thành người trong cõi nhớ/ Ai đó đừng quên tôi”. Ông viết về người vợ tảo tần, thủy chung: “ Không nói hết, tuổi già anh lâm bệnh/ Em trở thành thầy thuốc chăm nom/ Thành thư ký đọc nghe và ghi chép/ Cho thơ anh trên báo vẫn còn”. Và ông đinh ninh: “ Nhưng không sao một tình yêu lớn/ Sẽ đi vào ký ức các con.” Thế nhưng nỗi đau ngập tràn, nỗi đau se sắt thì không giấu được trong thơ: “ Anh bảo em đừng khóc/ Nhưng anh nước mắt tràn/ Thương em nuôi các con vất vả Năm năm nuôi mẹ chồng bệnh tật/ Giờ chẳng lẽ trời bắt lại nuôi anh/ Em nói trong bình thản dịu lành/ anh yên tâm đáy là bổn phận đàn bà/ Anh nghe mà tê tái thịt da”
     Mười hai tập thơ in trong khoảng thời gian 1971 đến 2006, với mảng thơ viết về quê hương, mảng thơ viết về tình yêu, mảng thơ viết về cuộc sống đổi mới hôm nay … đây đó còn nhận ra những đan xen chất thi sỹ và  tính quan chức, đến tập Người trong cõi nhớ viết sau ngay nghỉ hưu, viết khi lâm bệnh, xuyên suốt, bao trùm là những suy ngẫm về kiếp người với một giọng thơ buồn bã giữa sự trống rỗng, đắng cay.
      Tôi đã cùng ông đi qua hơn ba mươi năm trên một con đường văn nghệ tỉnh lẻ quanh co, không ít khúc khủy, gập ghềnh, nóng, lạnh cho đến tận ngày mồng 8 tháng 3 năm 2006, tôi vừa khóc vừa đọc điếu văn tiễn ông về cõi vĩnh hằng.  Bấy giờ và mãi sau này trong tâm trí tôi, ông đang ở kề bên, ông không  đi đâu cả, ông vẫn ở lại với nhiều người và đang kể với các thế hệ về bao nỗi   nhân gian …
                                                        2006- 2015
Đ.B
. . . . .
Loading the player...