Cố NSƯT Trần Đức Duy không chỉ ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng công chúng bởi giọng ca "chuông vàng" hiếm có, mà còn ở tư duy sáng tạo bậc thầy và cái tâm trăn trở với dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh. Hãy cùng nhìn lại cuộc đời, sự nghiệp đầy tự hào nhưng cũng lắm thăng trầm của người nghệ sĩ tài hoa làng Trường Lưu qua bài viết “Cố nghệ sĩ ưu tú Trần Đức Duy – người nghệ sĩ có giọng ca vàng” của Nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian, kịch tác gia Phan Thư Hiền.
Cố Nghệ sĩ Ưu tú (NSƯT) Trần Đức Duy sinh ra ở làng Trường Lưu trong một gia đình có truyền thống văn hóa văn nghệ. Ông biết hát dân ca từ nhỏ, ông hát rất hay, nhưng quả thật cũng nhờ từ khi được tuyển vào Đoàn Văn công chuyên nghiệp, nhờ được đi đây đi đó khắp nơi trong tỉnh để biểu diễn nên ông đã học được rất nhiều các nghệ nhân khắp nơi trong tỉnh, từ Hát phường vải Nam Đàn, Hát ví Kỳ Anh, Hát giặm Thạch Hà… đến hát Chèo Kiều Nghi Xuân. Ông gom nhặt từng làn điệu, từng lời ca trong dân gian để hòa trộn với vốn dân ca từ cái nôi Trường Lưu quê ông thành một kho dân ca của một người nghệ sĩ dồi dào về ca từ, dày dạn về kinh nghiệm biểu diễn, cùng với cái mã đẹp trai, hào hoa phong nhã; lối nói chuyện hóm hỉnh, có duyên và giọng hát thiên phú, khiến khi mới bước chân ra sân khấu đã hút hồn khán giả. Ông cùng với ba người nữa trong làng là Nguyễn Hữu Dần,Trần Ngọc Liên và Trần Văn Tĩnh là những người có công phục hồi lại “Hát phường vải Trường Lưu”, sau nhiều năm mai một.
Đoàn Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh hồi ấy, có ba người có giọng hát hay, đi biểu diễn ở đâu cũng được khán giả yêu cầu hát lại bài tam ca “Con kiến mà leo cành đào”, đó là: Đình Chung (giọng chuông đẩu), Ngọc Tỉnh (giọng chuông chùa), Đức Duy (giọng chuông vàng). NSƯT Trần Đức Duy không chỉ được khán giả ngưỡng mộ, mà con được giới văn nghệ sĩ tỉnh nhà vô cùng trân trọng bởi ông là người “có nghề”, “hiểu nghề” và “say nghề”. Những lời ông hát, những động tác ông diễn đều được ông phân tích, suy nghĩ kỹ lưỡng và sáng tạo trong từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ cũng là những câu hát giống nhau, nhưng ông đã hát rất nhiều cách khác nhau:
Anh đến dàn hoa thì hoa kia đã nở
Anh đến bến đò thì đò đã sang sông
Đến bên em, em đã lấy chồng
Em yêu anh như rứa, hỏi có mặn nồng lấy chi?
Khổ thơ trên có ba chữ “đã”, mà ông có ba cách hát rất khác nhau. Ở câu 1: “hoa kia đã nở”, ông hát “đà”. Theo ông, đà là vừa nở xong, còn rực rỡ hương sắc, không thể không tiếc! Còn ở câu 2: “đò đã sang sông” thì ông hát nguyên từ “đã”, nghĩa là đò đã rời bến đích thực, không làm sao níu kéo được nữa. Riêng câu thứ 3: “đến bên em, em đã lấy chồng”, ông dùng chữ “đạ” “đến bên em, em đạ lấy chồng”. Đúng là một tiếng thở dài não nùng, một nỗi niềm thất vọng đầy chua xót. Và cũng khổ ví ấy, ở phần thứ hai với sự đối đáp của người con gái ông lại hát như sau:
Anh đến dàn hoa, hoa đến thì, thì hoa phải nở
Anh đến bến đò, đò đầy, thì đò phải sang sông
Đến duyên em, cha mẹ ép, em phải lấy chồng
Dừ trách nhau chi lắm, cho cực lòng nhau thêm!
Với câu cuối, các nghệ sĩ Xuân Năm, Hồng Năm, Lệ Thanh, Ngọc Sở… đều hát: “Em yêu anh như rứa, hỏi có mặn nồng thì tùy anh!”. Ông bảo: “cô gái ấy sao mà vô duyên thế! Không có lòng kiên nhẫn đợi chờ phải vội đi lấy chồng, như thế thì còn gì là tình nghĩa nữa?”.
Ông cho là mặc dù lòng thương dạ nhớ, nhưng bị cha mẹ ép thì em không có cách nào khác đành phải vâng lời, nên đừng trách em mà đau lòng, như thế mới sâu sắc, thấm thía. Với bài Giặm kể “Ô lục soạn” (lời cổ khuyết danh), có đoạn ông hát:
Ôông vô trong chim xúc một đọi độ,
Mụ xúc một mủng khoai
Nấu lên một nồi hai
Nhắc ra trửa cựa nhà ngoài
Hai ung mụ ta ngồi nhai,
Sướng bằng năm ô lục soạn
Sướng bằng mười ô lục soạn!
Khi hát bài này nhiều người còn thêm vào hai câu sau nữa:
Ôông ngồi trục cúi quá tai
Mụ ngồi chò hỏ xéo khoai…
Nghe ai hát như thế thì ông rất giận. Ông nói: Hình ảnh “trục cúi quá tai” là của thằng nghiện, không đẹp, thậm chí thiếu văn hóa. Còn người đàn bà ngồi “chò hỏ” là rất hớ hênh, nhất là phụ nữ ngày xưa mặc váy mà ngồi chò hỏ thì vô duyên, không thể chấp nhận được. Nhiều diễn viên, ca sĩ còn tranh luận lại với ông là “câu đó là của cổ nhân”, trước cha ông hát sao, mình phải hát vậy. Lúc này ông bình tĩnh giảit thích: “dân ca là văn nghệ truyền khẩu, người hát cần phải biết ứng biến, sáng tạo trong từng câu hát, nhằm “giữ gìn cho sự trong sáng của tiếng Việt”. Ông nói: hình tượng “trôốc cúi quá tai” là của anh nghiện, ngồi gục đầu vào hai đùi, vừa không đẹp, vừa thiếu văn hóa. Còn người vợ ngồi “chò hỏ” thì cực xấu, nhất là phụ nữ ngày xưa mặc váy mà ngồi chò hỏ là rất hớ hênh, hai hình tượng này không nên gắn vào cho hai vợ chồng đang hạnh phúc, đang sướng đang đẹp bằng năm bằng mười ô lục soạn!
NSƯT Trần Đức Duy không chỉ có giọng ca vàng, dù rằng chỉ thế cũng đáng quý lắm rồi. Ông còn tự soạn những tiết mục, những tổ khúc dân ca để biểu diễn. Ông có tài chắp nối những câu hò, câu ví giặm cổ thành bài gọn gàng cho một tiết mục, khi cần thiết ông cũng có thể lấy nơi này nơi kia, bài này bài kia một vài câu xào xáo thêm thắt cho hợp cảnh hợp tình, theo lối sáng tác rất chi là dân gian mà ông thường gọi quấy quá rằng: “gặp chi hát nấy”, “tiện mô bắt xắp nấy”, miễn là trơn tru, “trơn bọt lọt lạch”! Nhờ giọng hát tuyệt vời người nghe thấy hay, không ai nỡ bắt bẻ ông.
Sự chuẩn mực “có một không hai” trong cách hát, lối hát của ông đã khiến anh chị em làng văn nghệ tôn vinh NSƯT. Trần Đức Duy làm thầy vì ông không chỉ có giọng “chuông vàng”, có tài diễn xuất, mà ông còn biết tự soạn những tổ khúc dân ca để trình diễn hoặc truyền dạy cho con cháu hát. Nhiều người xưng ông là “ba” và ông cũng tự xưng lại là ‘ba”, từ đó tên Đức Duy thành Ba Duy. Đặc biệt, sau chuyến đi biểu diễn ở Trung Quốc, rồi ở Triều Tiên, cái tên Ba Duy trở thành phổ biến và nổi tiếng gần xa. Tiếng hát của ông theo bước chân ông vang lên khắp mọi nẻo đường trong tỉnh, ngoài tỉnh; trong nước, ngoài nước; bên mâm pháo, dưới chiến hào, trên công trường, ngoài trận địa… Ở đâu và bất cứ lúc nào NSƯT Trần Đức Duy cũng được các tầng lớp nhân dân trân quý, mến mộ.
Đối với đoàn Văn công Hà Tĩnh hồi đó, ông chưa phải đã thật già nhưng nhiều anh chị em gọi ông bằng “Ba” và ông cũng tự xưng là “Ba”. Từ đó tên Đức Duy thành Ba Duy, không phải thứ ba như Năm Ngữ, Cả Tam, Sáu Lầu… Nhất là sau khi ông cùng Đoàn Văn công không chuyên Khu 4 đi biểu diễn ở Trung Quốc và Triều Tiên về thì cái tên Ba Duy trở thành phổ biến. Tiếng hát của ông theo bước chân ông vang lên trên khắp nẻo đường biểu diễn, trong tỉnh, ngoài tỉnh, trong nước, ngoài nước, đến với các chiến sĩ phòng không bên mâm pháo, với các trận địa, các đơn vị thanh niên xung phong… Ở đâu, lúc nào ông cũng được mến mộ, được người nghe với thái độ yêu thương.
Vào những năm 1973, 1974, phần vì hoàn cảnh gia đình vợ yếu con đông, ông xin nghỉ hưu khi mới độ tuổi năm mươi, khi giọng ca đang kỳ xuân sắc, và mãi đến đợt phong nghệ sỹ lần thứ hai, ông mới được Nhà nước phong danh hiệu NSƯT, nghĩa là sau các học trò Xuân Năm, Song Thao. Có thể nói cả về cuộc đời lẫn sự nghiệp đều muộn mằn như ông hằng tâm sự, có thể ở ông có điều gì đó không trôi chảy, chưa trọn vẹn nhưng anh chị em trong Đoàn Văn công Hà Tĩnh hồi ấy đến nay vẫn thương ông, trân trọng ông. Sau khi nghỉ hưu, phần vì mưu sinh, phần lại nhớ nghề, ông đi hát khắp nơi, ai mời gọi là ông đến góp tiếng hát cho đời, còn một chút hơi tàn còn hát. Khi mắt bị lòa, mấy lần mổ không thành công sau đó ông không đi hát nữa.

NSUT. Đức Duy (giữa) cùng con cháu trình diễn dân ca ví, giặm tại Liên hoan Tiếng hát gia đình văn hóa, 2005. (Ảnh: Tư liệu)
Năm 2005, được sự động viên, khích lệ của lãnh đạo ngành Văn hóa tỉnh và huyện Can Lộc (cũ), gia đình NSƯT Trần Đức Duy gồm ba thế hệ: Ông, con trai, con gái, con dâu và các cháu nội, ngoại cùng tham gia Liên hoan tiếng hát gia đình văn hóa Hà Tĩnh lần thứ I. Với truyền thống “cha truyền con nối”, gia đình NSƯT Trần Đức Duy đã dành giải A với số điểm tuyệt đối cho tiết mục “Trường Lưu - Câu hát cội nguồn” do NSƯT Trần Đức Duy soạn lời. Lần ấy, mắt ông đã bị mù và anh Trần Đức Giao - Người con trai cả đã dìu cha mình lên sân khấu nhận giải thưởng. Đó là lần cuối cùng NSƯT Trần Đức Duy trở lại sân khấu biểu diễn và sau đó người nghệ sĩ có giọng ca vàng ấy đã rời xa chúng ta mãi mãi!
Phan Thư Hiền