16-02-2021 - 08:47

Chùm tản văn của các tác giả Hữu Ngọc, Ngô Đức Hành, Nguyễn Thị Hòe

HỮU NGỌC

TẾT BIẾT NÓI SAO ĐÂY...

   Nhiều bạn nước ngoài hỏi tôi: “Tết có ma lực gì mà làm xáo động cả dân tộc Việt Nam đến thế? Trước Tết và sau Tết, tại sao các bến ô-tô, ga xe lửa, sân bay đông như kiến, Việt kiều khắp thế giới cũng háo hức vê' quê hương. Rồi lại phải có thêm nhiều chuyến tàu hỏa và chuyến bay đặc biệt. Tại sao thế?”

Có người hỏi:

“Tại sao chợ Tết đông như vậy? Tại sao cả một bộ phận kinh tế sản xuất cho Tết? Tại sao hàng chục, hàng trăm xe tải chở lá dong từ rừng núi về các thành phố? Tại sao các báo Tết thi nhau ra, tăng trang tăng giá mà vẫn bán hết?”.

Lại có người hỏi:

“Tại sao trước Tết không khí thoải mái vui chơi để dư âm sau Tết vẫn còn kéo dài đến hàng tuần, ở nông thôn đến hàng tháng”.

Có người bạn còn dẫn một đoạn văn do một bác sĩ nhà binh Pháp viết về Tết Việt Nam cách đây hơn một thế kỷ: “Trong gần một tháng, người bản xứ giàu hay nghèo đều ngừng công việc để ăn uống, vui chơi. Chấm dứt buôn bán, làm đồng, công việc phu phen vất vả. Người lớn người bé đều mặc đẹp. Người nghèo bán đồ bán đạc lấy tiền xả láng… Trẻ con cũng vui thích vì nhận được tiền phong bao giấy đỏ. Chỗ nào cũng màu đỏ, màu vui sướng”.

“Tết có ma lực gì mà từ bao đời nay, Tết khiến cho mọi người Việt Nam đều tạm thời quên hết ưu phiền để cùng nhau cảm thông trong một niềm vui cộng đồng vượt ra khỏi cá nhân?”, bạn nước ngoài hỏi.

Tết Việt Nam! Biết nói sao đây cho bạn hiểu?

Phải chăng ở nước ngoài, đặc biệt là ở phương Tây, Tết (năm mới) không mang nhiều ý nghĩa như ở Việt Nam? Tết Việt Nam ngoài ý nghĩa vui xuân, còn kết hợp nhiều nội dung của nhiều lễ hội khác phương Tây: ý nghĩa tinh khiết và tái sinh của lễ Phục sinh, ý nghĩa vui được mùa và bình an của lễ Tạ ơn Chúa, cũng đồng thời là dịp họp mặt đông đủ của thị tộc, ý nghĩa họp mặt gia đình và cho quà của lễ Chúa giáng sinh. Nhưng nếu đem tất cả những lễ hội của phương Tây ấy lại vẫn chưa thể hiện được cả “thần” của Tết Việt Nam với một nền văn hóa riêng.

Phải chăng Tết đánh dấu sự cảm thông giữa con người và thiên nhiên bằng một tình cảm thiêng liêng, huyền bí, khiến con người tan biến, hòa nhập vào vũ trụ trong niềm hồ hởi tái sinh của mùa xuân. Phải chăng tình cảm này mạnh mẽ đối với dân tộc Việt Nam hơn là đối với các dân tộc công nghiệp hoá phương Tây, vì tuyệt đại đa số nhân dân ta ở đồng bằng nông nghiệp nên gần thiên nhiên hơn. Từ xưa, vụ lúa mùa gặt xong, ruộng đất và nhà nông được dịp nghỉ ngơi để sang năm mới lại bắt đầu vào cuộc. Do dó, Tết là một dịp hiếm có để con người vui chơi thoải mái cho bỏ vất vả cả năm.

Phải chăng tình cảm vũ trụ hồi sinh, đã thấm nhuần tâm tư và hành động của cả một dân tộc trong mấy ngày Tết? Tết Việt Nam có một giá trị nhân văn hiếm thấy ở các nền văn hoá khác. Vạn vật tưng bừng khí xuân, con người cũng phải đổi mới, vui vẻ, thực hiện cái mới, cái hay, cái thiện cái hài hoà, ít nhất trong vài ngày. Bài ca lạc quan, tin vào con người và nhân ái vang lên trong nhiều phong tục Tết cổ truyền. Trong gia đình, bố mẹ kiêng đánh mắng con cái, mẹ chồng tai ác cũng dịu giọng nói với nàng dâu, anh chị em tránh cãi nhau, chủ nhà đối đãi tử tế với người ở. Trong xóm làng, không ưa nhau nếu gặp nhau cũng chào hỏi. Nợ nần không đòi vào ngày Tết. Khách lạ đến cũng chào mời chén trà miếng bánh. Những tục lệ khai ấn, khai bút, khai trương, hạ điền... nói lên ý nguyện làm ăn nghiêm túc trong năm mới. Ngay trong chiến tranh khốc liệt, quân hai bên cũng tạm ngưng chiến.

Phải chăng Tết còn là một nhịp cầu nối hiện tại và dĩ vãng, người sống với người chết, nên mới có sức mạnh huyền bí ấy? Trước Tết, có nhiều gia đình đi tảo mộ. Nhà nào cũng lau chùi bàn thờ ông bà ông vải để đến nửa đêm, phút Giao thừa, cúng hương hoa và cả cổ bàn, mời những thế hệ đã khuất về vui xuân với con cháu trong mấy ngày.

Phải chăng ông bà ông vải về trong dịp Tết, nên ai cũng muốn có mặt ở nhà để tò lòng thành kính tổ tiên. Nỗi khổ tâm của người Việt ly hương là những ngày này không thể về quê được. Tết là một yếu tố tăng cường và nhắc nhở ý thức gia đình, họ hàng và làng nước. Con cháu chúc mừng ông bà, bố mẹ, họ hàng, bạn bè, người làng thăm hỏi nhau. Tình làng nghĩa xóm mặn nồng thêm nhờ cúng lễ Thành hoàng của cộng đồng, kèm theo lễ hội có khi rải ra suốt ba tháng đầu năm.

Tôi đã đưa ra lý do đặc biệt của Tết Việt Nam. Có thể bạn nước ngoài hiểu được ít nhiều bằng trí óc. Nhưng phải là người Việt Nam mới cảm nhận được sâu sắc Tết Việt Nam. Đây là sự kết tinh của bản sắc dân tộc với biết bao huyền thoại và sự tích như Bánh Chưng, Trầu cau, Âu Cơ, Thánh Gióng, Hái Lộc, Hoa Đào… được lưu truyền trong lễ hội xuân.                                                                                                        H.N  

                                           

 

NGÔ ĐỨC HÀNH

MÙI KÝ ỨC

                              Tản văn

Người già thường nhớ quê. Tôi không ngoại lệ. Trong mớ ký ức vụn của mình, và chắc những người tầm tuổi năm mươi, sáu mươi, khó có thể quên Tết xưa. Tuổi của lấm lem mùi đất bãi hiện về trong những ngày áp Tết. Con nít vốn vô tư nhưng thêm tuổi nào thấm quê nghèo tuổi ấy. Bạn đừng quá ngạc nhiên. Những năm bảy mươi, thậm chí kéo dài nhiều thập niên kế tiếp quê nào cũng nghèo. Nhưng, vùng đất Trảo Nha xưa, thời tôi lớn lên gọi là Nam Sơn, một làng nhỏ của xã Đại Lộc nép bên sông Nghèn thật đặc biệt. Những con đường sỏi đá, những bờ bụi rỗng tuếch, những ngôi nhà đầy gió...Câu ca cũ: “Dù ai béo tốt như voi/ Đã về Kỳ Lạc cũng lòi xương ra”. Kỳ Lạc, vốn là một “làng” thuộc “hai làng” mà thành “làng lớn” Nam Sơn.

Tuổi thơ tôi bước trên những con đường sỏi đá, mùa đông đau nhói bàn chân, mùa hè rát bỏng, nhem nhuốc. Tuổi thơ tôi úp mặt vào dòng nước mát sông Nghèn, lơ đãng theo cánh buồm ngược gió. Tuổi thơ tôi, lắng trong dòng suối chảy, thơm trên bàn tay cùng quả Sim, quả Dứa chín trên rú Nghèn. Ngày ấy, rú Nghèn thật lớn, đầy bí hiểm. Tuổi thơ tôi, mát lạnh trên những cánh đồng Nam Sơn đẫm sương. Tôi nhìn thấy trên con đường mang tên Dân sinh thuở xưa có bóng tuổi mục đồng, mãi xanh cùng hai hàng phi lau, hay còn gọi là cây Dương tấu nhạc đồng quê. Tuổi sáu mươi, bàn chân rong ruổi khắp bốn phương trời, đến cả những làng nhỏ thuộc châu Âu, tây Á, vùng Vịnh...tôi nhận ra một chân lý: không đâu đẹp bằng quê mình. Mà thật lạ, quê hương những năm đói khát, càng đi xa, càng hiện lên mồn một.

Nam Sơn, có những con đường trong làng dài dằng dặc, nhất là con đường xung quanh Nương Lậm; các kho hợp tác xã nhất là kho Đội 4, kho đội 7, Tết là ngày hội con nít đánh xu, đánh bật tường. Quên cả ăn, quên cả đói. Trong những bữa cơm nghèo ngày Tết, tôi không sao quên được bữa cơm chiều 29. Làng Nam Sơn của tôi chỉ có một hợp tác xã thôi, nhưng gồm nhiều đội sản xuất. Thường thì chuẩn bị cho xã viên đón Tết, trước đó Ban Chủ nhiệm bao giờ cũng họp. Một nội dung quan trọng là xem trong hợp tác xã, trong từng đội, con trâu nào già nhất, sức cày kéo đã kém, sợ ra Giêng “bổ rét” thì được quyết định “giết thịt” chia cho xã viên. Sáng 29 thì mổ thịt, trưa 29 thường là chia xong từng suất cho mỗi hộ. Sân Nương Lậm thời điểm chia thịt trâu vui, rôm rả, chứa căng nụ cười. Tôi thường theo cha tôi, lăng xăng cầm cạu cho ông. Sau khi nhận phần được chia, tôi lại lăng xăng theo chân cha về nhà. Đầu óc chỉ nghĩ đến bữa cơm chiều. Mẹ tôi, người đàn bà thảo thơm, sau khi đón “cạu” thịt từ tay cha tôi, bà cẩn thận phân loại. Xương trâu rõ ràng là để riêng. Với thịt mẹ tôi khéo léo lọc ra, trong đầu óc mẹ lạng nào hấp, lạng nào kho. Tất nhiên, phần ngon nhất cất cẩn thận, trước hết còn soạn mâm cúng Tổ tiên. 

Sân kho, dọc những con đường đầy ắp bọn bạn đánh đáo kéo tôi ra khỏi sự thèm khát khi ngồi bên “cạu” thịt mà cha tôi mang về cho mẹ. Ngày Tết, thời gian thật nhanh, nhất là với bọn trẻ. Hoàng hôn khuất dãy Trà Sơn thì đứa nào cũng phải về nhà đứa nấy. Tôi bỏ trì thiếc, xấp xu còn chưa bị thua hết vào  “bâu” chiếc áo gụ nhuộm bùn về nhà. Chưa bước vào nhà, mùi nước ninh xương trâu đã bốc mùi thơm cồn cào. Các bạn biết không, xương trâu chẳng bằm ra làm viên được như xương cá, xương lợn; chỉ có thể nấu nồi nước. Những năm đó là gì có bột nêm, mì chính...Loại bột nêm này chưa có trong hình dung của người dân quê nghèo. Can Lộc ngày đó là một huyện vừa bán sơn địa, vừa đồng bằng, vừa giáp biển. Nay các xã có biển đã được cắt ra để lập nên huyện Lộc Hà. Nói thế để biết chẳng xa biển bao nhiêu. Gần biển nhưng người dân chưa có khái niệm về nước mắm. Muối biển cho vào nồi nước được múc lên từ giếng, đun sôi, lá chuối khô trong vườn bỏ vào cho có màu “cánh dán” là thành nước mắm. Cha tôi là người khéo tay, “nước mắn” ông đun từ muối và lá chuối khô bao giờ cũng ngon hơn. Thế đấy. Xương trâu đun nước lên, nêm muối, cho thêm vài giọt “nước mắm” cho dậy mùi mà thành thứ nước chan cơm ao ước. Chan vào cơm thay canh, anh em thi nhau xì xụp trong rơm rớm nước mắt vì sung sướng. Cho đến bây giờ, đã có lúc được dự Quốc tiệc, ăn những bữa ăn cao cấp khác... nhưng mùi nước xương trâu chiều 29 Tết tôi không bao giờ quên. Nó như ngấm vào da thịt, trong vị mồ hôi có mùi nước xương dạo ấy.

Làng quê cho ta nhiều cảm giác và cứ thế hiện về trong tâm thức, đi đâu, ở đâu làng quê cũng đi theo. Đối với tôi, bữa cơm nghèo 29 Tết, những tiếng hò reo, tiếng lẻng xẻng của đồng xu, đôi mắt nheo nheo để làm sao ném chiếc trì cho các đồng xu trên ván đánh không còn dính vào nhau...mãi mãi đi theo, dẫu tới cùng trời, cuối đất.

Nó là mùi ký ức trong tâm thức mình.

                                    N.Đ.H

                               

 

NGUYỄN THỊ HÒE

 

MONG MAU TỚI TẾT dỰNG NÊU ĂN CHÈ

                 Tản văn

         Trong ký ức của tôi, của những đứa trẻ quê ngày ấy cây nêu hiện lên sừng sững, lung linh như vừa bước ra từ câu chuyện cổ tích, lý thú và đầy mê hoặc.

Nó bắt đầu từ câu chuyện kể của nội, ngày xửa ngày xưa, thuở người và quỷ còn tranh chấp đất đai, quỷ cậy thế mạnh hơn nên hà hiếp, bóc lột người thậm tệ. Trải qua nhiều phen thắng bại, cuối cùng bằng mưu trí của mình người đã đẩy lùi được quỷ ra ngoài tận biển Đông. Nhưng trước lời van xin của quỷ hàng năm được về thăm tổ tiên trong đất một lần, người đã rộng lòng khoan dung, độ lượng chấp thuận mở cho quỷ một lối về. Từ đó cứ đến ngày 23 tháng chạp hàng năm, sau lễ tiễn ông Công, ông Táo về trời dân làng tôi ai nấy đều háo hức, sửa soạn dựng nêu nhằm bảo vệ phần nội gia cư, chống lại sự xâm nhập của ác quỷ. Trong ký ức của những đứa trẻ quê tôi, cây nêu hiện lên sừng sững, lung linh như vừa bước ra từ câu chuyện cổ tích, lý thú và đầy mê hoặc. Nhằm đúng ngày thần linh về trời, tụi con nít lẽo đẽo theo cánh người lớn ra vườn chặt tre. Cây tre ưng ý phải là những cây tươi tốt, cao chừng năm, bảy mét, ngọn cây uốn cong như hình lưỡi liềm. Vì “tre ôm tre níu” lấy nhau, lá cành đan rậm rạp nên phải vất vả lắm mọi người mới chặt được tre, lôi tre ra khỏi bụi.

Rồi nội tôi chẳng khác nào ông Tiên, ông Bụt trong truyện cổ khoan thai “phù phép” cho cây tre ấy biến thành một “bảo bối” linh thiêng đầy quyền uy và sức mạnh. Ông cầm con rựa sắc ngọt thoăn thoắt tỉa bay tất thảy những lá cành, rồi lần lượt cột lên ngọn cây một nắm lá dứa dại, một cái liềm và vài ba chiếc khánh đất. Những vật dụng ấy khiến chúng tôi tò mò hết sức. Nội tôi giải thích, bảo bối này là để giúp ta trừ tà ma quỷ, giữ đất, giữ nhà. Vì lũ quỷ vốn sợ lá dứa gai góc, sợ tiếng kêu leng keng của khánh đất, sợ lưỡi liềm sắc lạnh. Treo cái liềm lên ngọn cây nêu nhà nông còn muốn gửi gắm vào đó mong ước về một năm mới mưa thuận gió hòa, những vụ mùa bội thu.

Khi mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi thì mọi người xúm lại, người giữ gốc, người nâng ngọn từ từ dựng nêu lên. Nội tôi tự tay kè đất đá cho cây nêu đứng vững trước sân, và không quên vốc nắm vôi bột rắc một vòng quanh chân nêu. Nội bảo với con cháu rằng, có “bảo bối” này rồi lũ quỷ sẽ không còn dám bén mảng tới đây quấy nhiễu nữa. Cây nêu trong trí tưởng tượng của lũ trẻ bỗng hiện lên sinh động trước mắt. Với tất cả những điều tâm niệm chúng tôi trịnh trọng gọi nó là “cây thần”. Cây thần uy nghi chĩa thẳng mũi liềm về phía biển, ngụ ý nhắc nhở quỷ về xứ sở, bờ cõi. Những chiếc khánh đất đã bắt đầu đón gió, chạm vào nhau phát ra tiếng kêu leng keng, leng keng rất vui tai. Trong thời khắc nổi nêu trẻ nhỏ háo hức đã đành nhưng người lớn cũng không dấu được niềm vui. Cảm giác được che chở, an yên dâng ngập hồn người.

Ngày đó chưa có điện như bây giờ, ngày Tết cũng như ngày thường ban đêm cả một vùng quê tối như mực. Vậy là dân làng tôi nghĩ ra cách buộc vào ngọn cây một con ròng rọc, rồi canh vào lúc đêm xuống lại đổ đầy dầu vào chiếc đèn con, cho vào ròng rọc kéo lên ngọn cây nêu. Thật kỳ diệu trong tiết trời lạnh lẽo, ngọn đèn dầu vẫn thao thức lung linh, soi sáng mỗi nếp nhà, soi sáng cho hương linh ông bà tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu. Cứ thế suốt một thời thơ ấu, vào mỗi thời khắc chuyển giao giữa năm mới và năm cũ, lũ trẻ con chúng tôi lại háo hức cùng người lớn dựng nêu, cầu mong những điều tốt lành sẽ đến trong năm mới.

Trải qua thời gian cuộc sống mới với biết bao điều thay đổi, cây nêu bây giờ cũng đã mang một diện mạo mới rực rỡ sắc màu đèn điện. Nhưng trong tâm thức tôi mãi mãi không bao giờ quên được hình ảnh về cây nêu của một thời gian khó. Cây nêu mộc mạc, giản dị mà chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc!

                                    N.T.H

. . . . .
Loading the player...